CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI TRỢ CHUỖI CUNG ỨNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm, đặc điểm của hoạt động tài trợ chuỗi cung ứng của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm, đặc điểm chuỗi cung ứng 1. Khái niệm chuỗi cung ứng Thuật ngữ Chuỗi cung ứng (Supply Chain) bắt đầu xuất hiện vào cuỗi những năm 80 và ngày càng trở nên phổ biến ở những năm 90.
Trên thế giới có nhiều nhà khoa học đã đưa ra định nghĩa về chuỗi cung ứng: Lambert và cộng sự thông qua tác phẩm “Fundamentals of Logistics Management” (1998) đã định nghĩa chuỗi cung ứng là “sự liên kết với các công ty nhằm đưa sản phẩm hang hóa hay dịch vụ vào thị trường”1. Mentzer và cộng sự (2001) thì định nghĩa “chuỗi cung ứng là một tập hợp ba hoặc nhiều tổ chức trực tiếp tham gia vào dòng chảy của hang hóa, dịch vụ, tài chính và (hoặc) thông tin từ một nhà cung cấp đến người tiêu dùng”.2 Harland và cộng sự (2001) thì gọi đó là Mạng lưới cung ứng và đưa ra một khái niệm tổng quát hơn. “Mạng lưới cung ứng là mạng lưới các công ty liên kết với nhau nhằm mục đích chính là để cung cấp, sử dụng và chuyển hóa nguồn lực để cung cấp các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ cho khách hàng”.3 Như vậy, theo thời gian, định nghĩa về chuỗi cung ứng đã dần hoàn thiện hơn. Một cách tổng quát, “chuỗi cung ứng là hệ thống các tổ chức, con người, hoạt động, thông tin và các nguồn lực liên quan tới việc di chuyển sản phẩm hay dịch vụ từ nhà cung cấp hay nhà sản xuất đến người tiêu dùng.
Hoạt động chuỗi cung ứng liên quan đến biến chuyển các tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu và các thành 1 Douglas Lambert (1998), “Fundamentals of Logistics Management”, McGraw-Hill College 2 John T. Mentzer (2001), “Defining supply chain management”, Journal of business logistics, vol. Harland (2001), “A Taxonomy of Supply Networks”, Journal of business logistics, vol. 3 7 phần thành một sản phẩm hoàn chỉnh để giao cho khách hàng cuối cùng (người tiêu dùng).
Trong các hệ thống chuỗi cung ứng phức tạp, các sản phẩm được sử dụng có thể tái nhập vào chuỗi cung ứng tại bất kỳ điểm nào giá trị còn lại có thể tái chế được”. Các chủ thể tham gia vào chuỗi cung ứng (1) Supplier/ Nhà cung cấp là một cá nhân hay doanh nghiệp chuyên cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ của mình cho một cá nhân hay doanh nghiệp khác. Trong quá trình giao dịch, nhà cung cấp sẽ cung ứng các sản phẩm, dịch vụ cho bên có nhu cầu mua là doanh nghiệp. Mối quan hệ giữa nhà cung cấp và doanh nghiệp là mối quan hệ đôi bên cùng có lợi.
Nhà cung cấp giữ vai trò đảm bảo nguồn hàng cung cấp cho hoạt động kinh doanh nên nếu không có sự gắn kết bền chặt với nhà cung cấp thì doanh nghiệp không thể đảm bảo đủ nguồn hàng hóa để bán ra. Điều này làm cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của bị trì hoãn, dẫn đến doanh thu, lợi nhuận giảm, mất khách hàng. Ngược lại, cùng một mặt hàng, nhưng doanh nghiệp có thể nhập từ nhiều nhà cung cấp khác nhau với mức giá khác nhau, dựa trên nhiều yếu tố (ví dụ: giá cả, hàng có sẵn hay chất lượng hàng hóa.) (2) Manufacturer/ Nhà sản xuất là một cá nhân hay doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm mới từ nguyên liệu thô hoặc các bộ phận thành hàng hóa hoàn thiện thông qua việc sử dụng công cụ, máy móc và chế biến hóa chất bằng sức lao động của con 4 Nagurney, Anna (2006), “Supply Chain Network Economics: Dynamics of Prices, Flows, and Profits”, Cheltenham, UK: Edward Elgar 8 người. Quy mô sản xuất ngày càng được mở rộng, đa dạng để tiếp cận với các nhu cầu của khách hàng.
(3) Distributor/ Nhà phân phối là một cá nhân hay doanh nghiệp nhập hàng hóa từ nhà sản xuất và cung cấp đến khách hàng. Nhà phân phối có vai trò trong việc kết nối khách hàng với nơi sản xuất ra sản phẩm mà họ sử dụng. Những nhà phân phối này còn giữ nhiệm vụ giúp cho sợi dây cung cầu trên thị trường không bị ngắt quãng. Vừa giúp đem đến cho khách hàng những sản phẩm chất lượng vừa giúp cho nhà sản xuất có được nguồn khách hàng tiềm năng và tạo danh tiếng cho họ trên thị trường hàng hóa.
Tuy nhiên, thực tế thì nhiều nhà phân phối không cung cấp trực tiếp sản phẩm đến tay khách hàng. Họ chỉ đưa sản phẩm lên thị trường để sản phẩm cũng như tên tuổi của nhà sản xuất được đến gần hơn với các nhóm khách hàng có nhu cầu mua sắm ở nhiều khu vực khác nhau. Nói theo một cách khác, nhà phân phối thường hoạt động ở quy mô lớn, cung cấp số lượng lớn sản phẩm hàng hóa và các thức tiếp thị mang tính tập trung vào thương hiệu sản phẩm. (4) Vendor, Seller/ Đại lý bán lẻ là một cá nhân hoặc doanh nghiệp giữ vai trò cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho các cá nhân, tổ chức khác trong chuỗi cung ứng, nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng sản phẩm của khách hàng.
Nói cách khác, đại lý bán lẻ là mắt xích cuối cùng để đưa hàng hóa từ nhà sản xuất đến tay khách hàng. Thông thường, đại lý bán lẻ sẽ nhập hàng hóa từ các nhà phân phối hoặc nhà sản xuất (nếu sản phẩm không được phân phối qua bên trung gian) với giá sỉ sau đó, bán lại cho các cá nhân, tổ chức với mục đích là tiêu dùng và sử dụng sản phẩm đó với giá lẻ. (5) Customer/ Khách hàng là thành phần cuối cùng trong chuỗi cung ứng. Là người tiêu thụ hàng hóa và là một phần không thể thiếu trong chuỗi cung ứng bởi họ là người mang doanh thu về cho doanh nghiệp.
Các giai đoạn trong chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng gồm 4 giai đoạn chính gồm cung ứng, sản xuất, lưu trữ, phân phối và giao hàng. Giai đoạn đầu tiên tập trung vào các hoạt động cần thiết để 9 thu được nguyên liệu thô và các sản phẩm phụ cần thiết cho việc sản xuất các sản phẩm được bán. Trong giai đoạn này của chuỗi cung ứng, điều quan trọng là phải có sự sẵn có và số lượng nguyên vật liệu cũng như thời gian của chúng được lên kế hoạch và phối hợp tốt. Giai đoạn sản xuất bao gồm tất cả các quá trình liên quan đến việc tạo ra và chuẩn bị sản phẩm.
Có nghĩa là, các hoạt động cần thiết để chuyển đổi nguyên liệu thô thành sản phẩm và sản xuất hàng loạt chúng. Tối ưu hóa quy trình công nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong việc tiêu chuẩn hóa các hoạt động và do đó trong một chu trình nhanh và hiệu quả hơn. Giai đoạn trung tâm của chuỗi cung ứng - lưu trữ - bao gồm việc xử lý tạm thời hàng hóa và kiểm soát chất lượng và số lượng của chúng trong một không gian cụ thể để dòng vào và ra của chúng mang lại lợi nhuận cho công ty. Trong giai đoạn này, nhiều yếu tố có thể đánh dấu sự khác biệt giữa việc quản lý hiệu quả chuỗi cung ứng và hoạt động của một công ty và hoạt động kinh doanh đi chệch hướng.
Các kho hàng và/ hoặc trung tâm phân phối là đầu mối của giai đoạn này. Việc quản lý đúng đắn sẽ dự đoán được bất kỳ mức sản xuất cao điểm hoặc biến động nào về nhu cầu cũng như ảnh hưởng của chúng đối với kho hàng và việc quản lý nó. Đồng thời, quản lý lưu trữ sẽ tính đến chi phí lưu trữ và cung cấp để tránh bất kỳ sự tăng giá nào của sản phẩm hoặc dịch vụ cuối cùng, đảm bảo đáp ứng tối ưu cho các mức nhu cầu khác nhau và duy trì hàng tồn kho ở mức doanh nghiệp yêu cầu. Giai đoạn cuối cùng của chuỗi cung ứng: khi sản phẩm đến tay khách hàng đích.
Giai đoạn này bao gồm việc sản phẩm rời khỏi nhà kho và trung tâm phân phối để được giao cho khách hàng cuối cùng. Mục tiêu, ngoài việc giao hàng đến đích cuối cùng, phải là sản phẩm đến tay khách hàng trong tình trạng tốt và đúng thời hạn đã thỏa thuận. Đặc điểm chuỗi cung ứng Việc các mặt hàng, sản phẩm được cung cấp cho thị trường với số lượng đầy đủ, chất lượng chuẩn mực và có giá thành cạnh tranh là mục tiêu chính của chuỗi 10 cung ứng. Để thực hiện mục tiêu này, chuỗi cung ứng cần mang những đặc điểm cụ thể như sau: Đầu tiên, chuỗi cung ứng là một chuỗi các hoạt động liên quan đến nhau và có độ phức tạp cao nên việc đảm bảo sự cân bằng trong toàn bộ chu trình là vô cùng quan trọng, đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng các nguồn nhân lực và nguồn vật lực.
Tất cả các bên liên quan có trách nhiệm phải hoạt động chính xác để có thể vận hành thông suốt. Để làm được điều này, mỗi giai đoạn cần được lập kế hoạch chi tiết và đơn giản, cân nhắc đến các rủi ro tiềm ẩn và có biện pháp phòng ngừa kịp thời. Thứ hai, một chuỗi cung ứng hoạt động hiệu quả là một chuỗi cung ứng có thể thực hiện tốt đồng thời các giai đoạn nhưng với chi phí tối ưu. Thứ ba, để chuỗi cung ứng thực hiện được mục tiêu của nó, nhà cung cấp, hãng vận tải, nhà sản xuất, khách hàng, công nghệ… vừa phải làm việc độc lập, vừa phải phối hợp hiệu quả với nhau với mục đích chung là đưa sản phẩm đến tay khách hàng cuối cùng một cách hài lòng.Cuối cùng, chuỗi cung ứng cần có khả năng giao tiếp năng động.
Trong suốt quá trình từ khâu cung cấp đến khâu giao hàng cuối cùng cần có một luồng thông tin minh bạch và liên tục. Khái niệm, đặc điểm của tài trợ chuỗi cung ứng của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm tài trợ chuỗi cung ứng của ngân hàng thương mại Tài trợ chuỗi cung ứng (Supply chain finance) là một dịch vụ của ngân hàng thương mại mà ở đó ngân hang thương mại đóng vai trò là nhà tài trợ về vốn cho doanh nghiệp giúp doanh nghiệp cải thiện dòng tiền. Tài trợ chuỗi cung ứng là mắt xích liên kết các dòng chảy trong chuỗi cung ứng như hàng hóa, dịch vụ, vốn, thông tin với nhau.
Theo định nghĩa của Diễn đàn Tài chính chuỗi cung ứng toàn cầu, tài trợ chuỗi cung ứng là việc các ngân hang thương mại sử dụng các phương thức tài trợ về vốn cho doanh nghiệp để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh, tối ưu hóa việc quản trị vốn lưu động và khả năng thanh khoản của các doanh nghiệp trong 11 chuỗi cung ứng.