Chương 1 đã trình bày cơ sở lý luận và một số nghiên cứu đã thực hiện về sự thỏa mãn của hệ thống phân phối. Đồng thời, cũng đã nêu rõ nghiên cứu về sự thỏa mãn hệ thống phân phối là một hướng cần được quan tâm về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn. Nghiên cứu sự thỏa mãn của hệ thống phân phối là một phần trong đánh giá hệ thống phân phối, bên cạnh các chỉ tiêu lý tính (chẳng hạn như số lượng, thành phần, cơ cấu, cấu trúc…). Chương này trình bày tình hình nông nghiệp Việt Nam, tình hình và đặc điểm của thị trường thuốc bảo vệ thực vật để mô tả môi trường, quy mô, hoạt động, v.v… của hệ thống phân phối.
Đồng thời cũng phân tích vai trò, thuận lợi và khó khăn của hệ thống phân phối hiện tại. Từ đó giúp thấy rõ nhu cầu cần phải nghiên cứu sự thỏa mãn hệ thống phân phối của công ty Cổ phần BVTV An Giang. Tổng quan tình hình nông nghiệp Việt Nam Việt Nam cơ bản là một nước nông nghiệp và đang chuyển dịch dần cơ cấu kinh tế sang hướng công nghiệp và dịch vụ. Hiện nay, hơn 70% dân số tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Tuy tỷ trọng của khu vực nông nghiệp khá thấp trong GDP Việt Nam, chỉ chiếm khoảng 1/5 GDP cả nước và có khuynh hướng ngày càng giảm dần (năm 2007 ước tính khoảng 20.3%) nhưng GDP nông nghiệp tăng đều qua các năm. Tốc độ tăng trưởng GDP của khu vực nông nghiệp không cao, chỉ trên dưới 4%/năm, riêng năm 2007 chỉ đạt khoảng 3,41% nhưng sản xuất nông nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam vì: 1. Bảo đảm thực hiện chiến lược an ninh lương thực quốc gia 2. Giải quyết việc làm cho gần 70% dân số 3.
Là một nguồn thu ngoại tệ: năm 2006, riêng ba mặt hàng chủ lực là gạo, cà phê và cao su đã có tổng kim ngạch xuất khẩu là 3,7 tỷ USD. Năm 2008, mục tiêu của ngành nông sản là mang về 15 tỷ USD. 17 Trải qua thời gian dài của thời kỳ bao cấp, kinh tế kế hoạch hóa, ngành nông nghiệp hoạt động trì trệ, sản lượng lương thực chỉ ở mức tự cung tự cấp, xuất khẩu rất hạn chế. Nhờ những bước đột phá trong chính sách, tháo gỡ những cơ chế nặng nề bắt đầu là chính sách khoán 10 và đặc biệt là từ khi đất nước mở cửa nền kinh tế, nông nghiệp đã có những bước khởi sắc, Việt Nam đã tự túc được lương thực và bắt đầu đẩy mạnh xuất khẩu.
Hiện nay, Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong xuất khẩu nông sản thế giới: là một trong những quốc gia sản xuất gạo lớn nhất thế giới và cà phê, là quốc gia chi phối về cung ứng hồ tiêu,…. Tuy đạt được những thành tựu như vậy, nền sản xuất nông nghiệp Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế: 1. Nền nông nghiệp nước ta vẫn là một nền nông nghiệp lạc hậu: năng suất, chất lượng và hiệu quả thấp, sức cạnh tranh trên thị trường còn kém. Quy mô nhỏ, phân tán, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người làm nông nghiệp nước ta vào loại thấp nhất so với khu vực và trên thế giới, với 8 triệu ha đất nông nghiệp được chia nhỏ thành gần 75 triệu thửa.
Có một số cây trồng như cao su, cà phê, chè, mía đường,… hình thành được một số vùng sản xuất tập trung, qui mô lớn hơn so với các loại cây trồng khác. Hầu hết các cây trồng khác đều dựa vào sản xuất của hộ tiểu nông, quy mô nhỏ bé, phân tán, manh mún. Công nghệ sau thu hoạch lạc hậu cũng góp phần làm giảm hiệu quả của sản xuất nông nghiệp. Khả năng phòng chống giảm nhẹ thiệt hại của thiên tai rất hạn chế, môi trường tiếp tục xấu đi.
Môi trường nông thôn tiếp tục bị suy thoái, rừng vẫn bị tàn phá ở nhiều nơi, tình trạng xói mòn, thoái hóa đất, ô nhiễm nguồn nước do sử dụng hóa chất và do chất thải diễn ra khá nghiêm trọng, đe doạ môi trường và tính bền vững trong phát triển 3. Nguồn vốn đầu tư vào khu vực nông nghiệp còn thiếu: Theo thống kê, tổng vốn đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn trong 5 năm qua đạt khoảng 113.000 tỷ đồng, song con số này mới chỉ đáp ứng được 17% nhu cầu, chiếm 8,7% tổng vốn đầu tư cả nước. Thống kê của Cục Đầu tư Nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết, chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2007, FDI vào lĩnh vực nông nghiệp chỉ chiếm 2,46% trong tổng vốn FDI của cả nước 19. 19 Nguồn: VnEconomy (http://www.
Thị trường thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam 2. Tổng quan thị trường Trong sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam, những vật tư chủ yếu là phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, hạt giống và xăng dầu. Trong đó, chi phí chủ yếu là phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Năm 2007, thị trường thuốc BVTV có giá trị khoảng 7.917 tỷ đồng, đứng thứ hai trong ngành vật tư nông nghiệp, sau ngành phân bón với giá trị khoảng 20.
Hình 4-1: Kim ngạch nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật - Nguồn TCTK, TT3, Cục BVTV Thị trường thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là một thị trường quan trọng trong sản xuất nông nghiệp không những vì giá trị mà còn vì tính chất bảo đảm cho thành công của sản xuất nông nghiệp. Thuốc bảo vệ thực vật gồm có 3 nhóm chính là thuốc cỏ, thuốc sâu và thuốc bệnh. Thuốc ốc và thuốc chuột là một nhóm phụ. Vì là yếu tố đầu vào nên thị trường thuốc BVTV gắn liền với sản xuất nông nghiệp.1 cho thấy, sau thời kỳ suy giảm 2000-2001, thị trường thuốc BVTV đã phục hồi và phát triển liên tục cho đến nay về mặt giá trị.
Cùng với sự phát triển của giá trị thị trường, các hoạt chất cũng ngày càng tăng lên về số lượng và chất lượng (công nghệ mới hơn, ít ảnh hưởng đến môi trường hơn, độ độc thấp hơn). 19 Hình 4-2: Số lượng nhà nhập khẩu và số lượng hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật – Nguồn: TCTK, TT3, Cục BVTV Hình 2.2 cho thấy, đến năm 2007, số hoạt chất có mặt trên thị trường Việt Nam đã lên đến 344 hoạt chất với hơn 1.983 tên thương mại được đăng ký tại Cục Bảo Vệ Thực Vật 20. Các sản phẩm của Trung Quốc ngày càng được nhập về nhiều bên cạnh các sản phẩm của các tập đoàn đa quốc gia với khoảng cách về chất lượng ngày càng được thu hẹp. Thêm vào đó, nhiều công ty tham gia thị trường dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt.3 cho thấy, năm 1998, chỉ có 44 công ty được nhập khẩu trực tiếp thì đến năm 2007, đã có 144 công ty.
Cùng theo chiều hướng đó, số lượng các đại lý phân phối thuốc BVTV cũng tăng lên không ngừng (xem hình 2.9), đến năm 2007, chỉ tính riêng phía Nam đã có gần 10. Tuy nhiên, qua quá trình sàng lọc, một số đại lý phải thu hẹp hoạt động kinh doanh hoặc chuyển sang ngành nghề khác. Một số đại lý lớn tự mình phát triển hoặc liên minh với các đại lý khác thành lập các công ty trách nhiệm hữu hạn, có thể đứng ra nhập khẩu trực tiếp từ nước ngoài. 20 Nguồn: Danh mục thuốc BVTV – Cục BVTV ( www.vn) 20 Hình 4-3: Số lượng đại lý kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật – Nguồn: Thanh tra Cục BVTV 2.
Mô hình hệ thống phân phối trong thị trường thuốc BVTV Như trong hình 2.4, trong lĩnh vực thuốc BVTV, sản phẩm sẽ được phân phối qua các khâu như sơ đồ. Hàng hóa sẽ được các nhà cung cấp bán đến các nhà phân phối, nhà phân phối bán đến các đại lý, các đại lý bán đến người bán lẻ rồi người bán lẻ bán đến nông dân. Nông dân trả tiền cho người bán lẻ, đại lý thu tiền của người bán lẻ và trả cho nhà phân phối, các nhà phân phối sẽ thanh toán tiền cho nhà cung cấp. Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp, dòng tiền thu về không di chuyển trong hệ thống như vậy mà đi ra ngoài hệ thống phân phối thuốc BVTV chảy sang các ngành khác như phân bón, thức ăn gia súc, bất động sản,… Cũng có nhiều trường hợp, dòng tiền từ các nguồn khác chảy vào hệ thống như tiền thu về từ phân bón, từ thức ăn gia súc, nguồn vốn tự có hoặc huy động của gia đình, ngân hàng.
21 NHÀ CUNG CẤP NHÀ PHÂN PHỐI ĐẠI LÝ CẤP 1 ĐẠI LÝ CẤP 2 Chú thích: Hàng hóa ĐẠI LÝ BÁN LẺ Tiền Dòng tiền vào hệ thống Dòng tiền ra khỏi hệ thống NÔNG DÂN Lực hút Lực đẩy Hình 4-4: Sơ đồ hệ thống phân phối trong ngành thuốc BVTV Để bán hàng được tốt, các nhà cung cấp/nhà phân phối phải tạo lực hút cho sản phẩm của mình đối với nông dân và đối với đại lý, người bán lẻ thông qua các hoạt động tiếp thị cho nông dân như hội thảo, quảng cáo, khuyến nông,… và thông qua việc cung cấp hỗ trợ kỹ thuật, thông tin và hướng dẫn về sản phẩm cho đại lý, người bán lẻ. Bên cạnh đó, để bán hàng được tốt, nhà cung cấp/nhà phân phối cũng phải tạo lực đẩy cho sản phẩm thông qua chính sách bán hàng: khuyến mãi, chiết khấu, điều kiện thanh toán, giao hàng,… để hàng đến được cấp dưới trong hệ thống. Tuy nhiên, cá biệt cũng có một số trường hợp chuỗi phân phối được rút ngắn lại, bỏ qua một số khâu trung gian do đặc thù kinh doanh của công ty hoặc vùng. Công ty Bayer Crop Science Ltd.
bán một số sản phẩm trực tiếp cho đại lý cấp 1 chứ không theo cách làm của đại đa số các nhà cung cấp tại Việt Nam. Một số công ty trách nhiệm hữu hạn nhỏ, uy tín chưa cao, hạn chế về tiềm lực tài chính cũng như khả năng marketing đã tiếp cận thẳng xuống các đại lý cấp 2 để bán hàng. Ở nhiều vùng thì đại lý cấp 2 đồng thời cũng là đại lý bán lẻ bán đến nông dân. Việc hình thành chuỗi phân phối như vậy xuất phát từ điều kiện tự nhiên, giao thông cũng như tập quán mua bán và năng lực về vốn của các mắt xích trong chuỗi.
Các 22 vùng canh tác thường nằm ở vùng sâu vùng xa, đi lại khó khăn nên việc bán hàng trực tiếp, bỏ qua các khâu trung gian rất khó thực hiện. Đặc điểm: Với bối cảnh như vậy, thị trường như vậy có những đặc điểm sau: 1.