CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. TÌNH HÌNH CHUNG VỀ MOBIFONE MIỀN TRUNG VÀ CÁC TRUNG TÂM CUỘC GỌI 1. Giới thiệu chung MobiFone miền Trung là một đơn vị trực thuộc Công ty Thông tin Di động (VMS MobiFone), được thành lập vào ngày 15/12/1995 theo Quyết định số 1058/QĐ-TCCB ngày 15/12/1995 của Tổng Giám đốc Tổng Công ty Bưu chính Viễn Thông - Việt Nam, có địa chỉ tại: 263 Nguyễn Văn Linh – Đà Nẵng và thực hiện nhiệm vụ trực tiếp đó là: - Chức năng: Kinh doanh và phát triển thị trường viễn thông di động tại khu vực miền Trung và Tây nguyên. - Nhiệm vụ: Tổ chức và quản lý công tác phát triển hệ thống các kênh phân phối, bán hàng và chăm sóc khách hàng tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên.
- Quyền hạn: Xây dựng và quyết định bộ máy tổ chức nhân sự tại đơn vị, các quy định quy chế lao động phù hợp với khu vực của đơn vị mình. Tầm quan trọng của các Trung tâm cuộc gọi Trung tâm cuộc gọi được biết đến như là cầu nối giữa doanh nghiệp với khách hàng để qua đó nắm bắt, xử lý và làm tốt hơn các vấn đề của khách hàng trước, trong và sau khi sử dụng sản phẩm. Các tiêu chí để đánh giá chất lượng của một dịch vụ khách hàng bao gồm: • Sự thân thiện của nhân viên • Thấu hiểu, cảm thông và luôn lắng nghe nhu cầu của khách hàng • Được đặt ở vị trí trung tâm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 8 • Được cung cấp thông tin về sản phẩm, chính sách, thủ tục,… Ngày nay, các doanh nghiệp dịch vụ khách hàng đều có chiến lược chăm sóc khách hàng của mình qua việc thành lập các Trung tâm dịch vụ khách hàng, đặc biệt là sử dụng hình thức dịch vụ CSKH thuê ngoài chuyên nghiệp, để thay họ thực hiện các cam kết của sau bán hàng. Trung tâm cuộc gọi là một đơn vị cấu thành rất quan trọng trong việc thực hiện tiêu chí chăm sóc khách hàng.
Hiện nay, Trung tâm cuộc gọi miền Trung được đặt tại Đà Nẵng, có nhiệm vụ phục vụ khách hàng MobiFone qua đường dây hỗ trợ 9090 từ khu vực Quảng Bình đến Khánh Hòa, Đắc Lắc. Mô hình quản lý và hoạt động TTCG MobiFone Miền Trung Tại khu vực Miền Trung, Trung tâm Thông tin Di động Khu vực III là đơn vị cao nhất đại diện cho Công ty Thông tin Di động tại Miền Trung quản lý và chỉ đạo việc khai thác và vận hành của các TTCG theo sơ đồ cấu trúc nhân sự sau: GIÁM ĐỐC PHÓ GIÁM ĐỐC ĐÀI HTKH 1090 TRUNG TÂM TRUNG TÂM TRUNG TÂM CUỘC GỌI 1 CUỘC GỌI 2 CUỘC GỌI 3 Hình 1. Mô hình quản lý TTCG miền Trung 9 TTCG miền Trung bao gồm có 1 đơn vị chủ quản ( hay còn gọi là Đài HTKH 1090) và 3 trung tâm cuộc gọi lớn (TTCG1: Công ty Hợp Tín, TTCG2: Công ty Trường Minh, TTCG3: Công ty Minh Phúc) đặt tại 3 nơi khác nhau trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Trung tâm cuộc gọi là một đơn vị cấp dưới chịu sự quản lý về nghiệp vụ MobiFone của Đài 1090 với chức năng chính: là cầu nối liên lạc giữa khách hàng sử dụng dịch vụ thông tin di động của MobiFone với nhà cung cấp dịch vụ để khi họ có bất kỳ nhu cầu nào phát sinh đối với dịch vụ MobiFone, khách hàng có thể thực hiện cuộc gọi ngay đến đường dây hỗ trợ 9090.2 Mô hình hoạt động của TTCG MobiFone miền Trung Qua mô hình trên, ta dễ dàng nhận thấy: Ba TTCG miền Trung sẽ được kết nối với tổng đài MSC Đà Nẵng (Mobile Switching Center: tổng đài chuyển mạch) để nhận cuộc gọi qua tín hiệu SS7(E1), kết nối với trung tâm cơ sở dữ liệu của VMS MobiFone Miền Trung thông qua các Router Cisco 2801 để di chuyển gói dữ liệu bằng đường truyền internet để nhận diện thuê bao và sau đó cuộc gọi định tuyến tự động vào các TTCG một cách ngẫu nhiên theo sự định tuyến phân luồng từ MSC Đà Nẵng. Với hệ thống TLKH và phân 10 phối cuộc gọi tự động tại mỗi TTCG, lần lượt các cuộc gọi đến sẽ được tự động chuyển đến các điện thoại viên.
Điện thoại viên có nhiệm vụ tiếp nhận cuộc gọi của khách hàng để tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn khách hàng sử dụng dịch vụ MobiFone cung cấp. Đồng thời là cầu nối giữa khách hàng với doanh nghiệp để giải đáp thắc mắc, xử lý phản ánh khiếu nại, ghi nhận ý kiến khách hàng về các dịch vụ MobiFone cung cấp. KHÁI NIỆM VỀ SỰ HÀI LÒNG CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN Theo Weiss (1967) định nghĩa rằng sự hài lòng công việc là thái độ về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của người lao động. Theo Smith, Kendal và Hulin (1969) sự hài lòng công việc với các thành phần như: bản chất công việc, cơ hội đào tạo và thăng tiến, lãnh đạo, đồng nghiệp, tiền lương, vị trí công việc, sự đãi ngộ và các phần thưởng.
Theo Schemerhon (1993) định nghĩa sự hài lòng công việc như phản ứng về mặc tình cảm và cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau của công việc của nhân viên. Theo Spector (1997) sự hài lòng công việc đơn giản là việc người ta cảm thấy thích công việc của họ và các khía cạnh công việc của họ như thế nào. Vì nó là sự đánh giá chung, nên nó là một biến về thái độ. Ellickson và Logsdon (2001) thì cho rằng sự hài lòng công việc được định nghĩa chung là mức độ người nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhận thức của người nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hoặc môi trường làm việc của họ.
Nói đơn giản hơn, môi trường làm việc càng đáp ứng được các nhu cầu, giá trị và tính cách của người lao động thì độ hài lòng công việc càng cao. 11 Theo Kreitner và Kinicki (2007), sự hài lòng công việc chủ yếu phản ánh mức độ một cá nhân yêu thích công việc của mình. Đó chính là tình cảm hay cảm xúc của người nhân viên đó đối với công việc của mình. Như vậy, có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về sự hài lòng công việc nhưng chúng ta có thể rút ra được rằng một người được xem là có sự hài lòng công việc thì người đó sẽ có cảm giác thích thú, thoái mái, dễ chịu và thể hiện phản ứng tích cực đối với công việc của mình.
MỘT SỐ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU VỀ SỰ HÀI LÒNG 1. Thuyết nhu cầu của Maslow (1943) Theo ông nhu cầu của con người được chia làm năm cấp bậc tăng dần: sinh lý, an toàn, xã hội, tôn trọng và thể hiện. Sau khi một nhu cầu nào đó đã được thỏa mãn thì nhu cầu ở cấp bấc cao hơn kế tiếp sẽ xuất hiện. Từ lý thuyết này, ta có thể thấy nhà quản lý cần phải biết được nhân viên của mình đang ở cấp bậc nhu cầu nào để từ đó động viên nhân viên của mình bằng cách đáp ứng các nhu cầu cá nhân đó của họ.
Tháp nhu cầu của Maslow (1943) Nhu cầu sinh lý (nhu cầu cơ bản): Đây là nhu cầu bậc thấp nhất, tối thiểu nhất của con người. Đó là nhu cầu về cơm ăn, áo mặc, ngủ nghỉ. 12 Nhu cầu an toàn: Chúng ta mong muốn một công việc ổn định, thu nhập thỏa đáng với công sức của mình và một chút dư dả gọi là “phòng thân”. Nhu cầu xã hội: Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần được những người khác chấp nhận.
Con người luôn có nhu cầu yêu thương gắn bó. Cấp độ nhu cầu này cho thấy con người có nhu cầu giao tiếp để phát triển. Nhu cầu được tôn trọng: Theo Maslow, khi con người bắt đầu thỏa mãn nhu cầu được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì họ có xu thế tự trọng và muốn được người khác tôn trọng. Nhu cầu loại này dẫn tới sự thỏa mãn như: quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tự tin.
Đây là mong muốn của con người nhận được sự chú ý, quan tâm và tôn trọng từ những người xung quanh và mong muốn bản thân là một “mắt xích” không thể thiếu trong hệ thống phân công lao động xã hội. Việc họ được tôn trọng cho thấy bản thân từng cá nhân đều mong muốn trở thành người hữu dụng theo một điều giản đơn là “xã hội chuộng của chuộng công”. Vì thế, con người thường có mong muốn có địa vị cao để được nhiều người tôn vọng và kính nể. Nhu cầu được thể hiện mình: A.Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp của ông.
Đó là sự mong muốn để đạt tới chỗ mà một con người có thể đạt tới. Tức là làm cho tiềm năng của một người đạt tới mức tối đa và hoàn thành được một mục tiêu nào đó. Đây là khát vọng và nỗ lực để đạt được mong muốn. Con người tự nhận thấy bản thân cần thực hiện một công việc nào đó theo sở thích và chỉ khi công việc đó được thực hiện thì họ mới cảm thấy hài lòng.
Thuyết nhu cầu sắp xếp nhu cầu con người từ thấp lên cao. Những nhu cầu ở cấp cao hơn sẽ được thỏa mãn khi nhu cầu cấp thấp hơn được đáp ứng. Như vậy theo lý thuyết này, thì trước tiên các nhà lãnh đạo phải quan tâm đến các nhu cầu vật chất, trên cơ sở đó mà nâng dần lên các nhu cầu bậc cao. Thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959) Khác với lý thuyết của Maslow được xây dựng trên cơ sở lý thuyết tâm lý học, lý thuyết của Herzeberg được xây dựng trên cơ sở thực tế của người lao động.
Bằng cách hỏi những người công nhân những biện pháp nào trong các biện pháp để làm việc nhiều hơn, và những biện pháp cảm thấy hưng phấn để làm việc nhiều hơn, và những biện pháp nào không tạo ra sự thúc đẩy đối với họ, Herzberg đã căn cứ vào các ý kiến trả lời để chia các biện pháp quản trị thành hai loại: Các nhân tố động viên và các nhân tố duy trì. Các nhân tố động viên là những biện pháp quản trị có tác dụng thúc đẩy người lao động làm việc hăng hái hơn, nhưng nếu không có thì họ vẫn làm việc bình thường. Các yếu này bao gồm: Thành tựu Sự công nhận Bản chất công việc Trách nhiệm công việc Cơ hội phát triển Các nhân tố duy trì là những biện pháp của nhà quản trị không mang lại sự hăng hái hơn trong khi làm việc; nhưng nếu không có thì người lao động sẽ bất mãn và làm việc kém hăng hái.