MỞ ĐẦU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu nước ngoài Với sự phát triển của công nghệ thông tin, việc sử dụng các nền tảng trực tuyến để triển khai các chương trình đào tạo đã không còn mới mẻ ở các nước đã phát triển. Cũng chính vì lý do đó rất nhiều các học giả nước ngoài đã tiến hành nhiều nghiên cứu đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người học đối với việc học trực tuyến.
Một số nghiên cứu tiêu biểu bao gồm: Bài nghiên cứu “Usability, quality, value and e-learning continuance decisions” của Chao-Min Chiu và cộng sự (2005) đã đề xuất một mô hình EDT phân tách để kiểm tra niềm tin nhận thức và ảnh hưởng đến quyết định tiếp tục sử dụng của người dùng trong học tập trực tuyến. Mô hình đề xuất đã mở rộng EDT bằng cách phân tách thành phần hiệu suất được cảm nhận thành khả năng sử dụng, chất lượng và giá trị. Các giả thuyết nghiên cứu được đưa ra từ mô hình này dựa trên câu trả lời cho một bài khảo sát về việc sử dụng e-learning trong số 183 người dùng. Kết quả cho thấy ý định tiếp tục sử dụng của người dùng dựa trên sự hài lòng, được xác định chung bởi khả năng sử dụng được cảm nhận, chất lượng được cảm nhận, giá trị được cảm nhận và phủ nhận về khả năng sử dụng.
Nghiên cứu này chỉ hỗ trợ một phần quan điểm cho rằng sự không xác nhận là một yếu tố quyết định đáng kể của sự hài lòng. Con đường từ xác nhận khả năng sử dụng đến sự hài lòng là rất quan trọng, trong khi các con đường từ xác nhận chất lượng và không xác nhận giá trị đến hài lòng không đáng kể. Có thể giải thích rằng vai trò của khả năng sử dụng được cảm nhận, chất lượng và giá trị là yếu tố quan trọng trong việc giải thích/dự đoán mức độ hài lòng của người dùng trong các bối cảnh nhất định. Kết quả cho thấy rằng nhà cung cấp e-learning nên phát triển một chiến lược dài hạn để cải thiện khả năng sử dụng, chất lượng và gia tăng giá trị cho dịch vụ để duy trì hoặc nâng cao lòng trung thành của người dùng đối với dịch vụ.
Jen-Her Wu và cộng sự (2008) đã thực hiện bài nghiên cứu “A study of student satisfaction in a blended e-learning system environment”. Bài nghiên cứu đưa ra mô hình nghiên cứu xem xét các yếu tố quyết định tới sự hài lòng trong việc học tập của sinh viên tại môi trường hệ thống học tập điện tử kết hợp (BELS), dựa trên lý thuyết về việc nhận thức xã hội. Mô hình nghiên cứu đã được tiến hành thử nghiệm dựa trên 9 bảng các câu hỏi khảo sát. Phân tích các nhân tố xác nhận (CFA) đã được hình thành để tiến hành kiểm tra về độ tin cậy và tính hợp lệ của các phép đo lường.
Phương pháp bình phương nhỏ nhất từng phần (PLS) được sử dụng để xác nhận về các phép đo và những giả thuyết liên quan. Các phát hiện chỉ ra rằng tính hữu ích của máy tính, mang lại kỳ vọng về nhiều mặt như: hiệu suất, chức năng hệ thống, tính năng nội dung, tương tác và môi trường học tập là những yếu tố chính quyết định tới sự hài lòng trong học tập của học sinh với BELS. Kết quả cũng chứng minh môi trường học tập và kỳ vọng về hiệu suất ảnh hưởng đáng kể đến sự hài lòng trong quá trình học tập. Tương tác cũng có ảnh hưởng đáng kể tới môi trường học tập.
Các phát hiện trên đã cung cấp một cái nhìn sâu sắc về những khía cạnh là tiền đề quan trọng cho việc lập kế hoạch và triển khai một hệ thống học tập điện tử kết hợp để nâng cao sự hài lòng trong học tập của sinh viên. Tarhini và cộng sự (2013) đã cho ra đời bài nghiên cứu “Factors affecting students’ acceptance of e-learning environments in developing countries: a structural equation modeling approach”. Một phương pháp luận định lượng đã được áp dụng trong nghiên cứu này. Để kiểm tra mô hình nghiên cứu giả thuyết, dữ liệu được thu thập từ 569 sinh viên đại học và sau đại học đang học tập tại Lebanon thông qua bảng câu hỏi.
Dữ liệu thu thập được phân tích bằng kỹ thuật lập mô hình phương trình cấu trúc (SEM) dựa trên phương pháp AMOS và kết hợp với phân tích đa nhóm. Theo giả thuyết, kết quả của nghiên cứu cho thấy mức độ hữu ích được cảm nhận (PU), mức độ dễ sử dụng (PEU), chuẩn mực xã hội (SN) và chất lượng cuộc sống làm việc (QWL) là những yếu tố quyết định đáng kể đến ý định hành vi của sinh viên (BI). Bài nghiên cứu “Investigating users’ perspectives on e-learning: An integration of TAM and IS success model” của Mohammadi (2015) kiểm tra mô hình tích hợp của TAM và D&M để khám phá tác động của các tính năng chất lượng, tính dễ sử dụng, tính hữu ích được nhận thấy đối với ý định và sự hài lòng của người dùng, cùng với tác động trung gian của tính khả dụng đối với việc sử dụng e-learning ở Iran. Dựa trên dữ liệu người dùng e-learning được thu thập thông qua một cuộc khảo sát, mô hình phương trình cấu trúc (SEM) và phân tích đường dẫn đã được sử dụng để kiểm tra mô hình nghiên cứu.
Kết quả cho thấy cả “ý định” và “sự hài lòng của người dùng” đều có tác động tích cực đến việc sử dụng e-learning trên thực tế. “Chất lượng hệ thống” và 10 “chất lượng thông tin” được coi là những yếu tố chính thúc đẩy ý định và sự hài lòng của người dùng đối với việc sử dụng e-learning. Cuối cùng, “tính hữu ích được nhận thức” làm trung gian cho mối quan hệ giữa tính dễ sử dụng và ý định của người dùng. Mẫu bao gồm những người sử dụng e-learning của 4 trường đại học công lập ở Iran.
Các nghiên cứu trước đây hiếm khi xem xét một mô hình tích hợp trong bối cảnh học tập điện tử ở các nước đang phát triển. Hơn nữa, bài báo này cố gắng cung cấp một đánh giá tài liệu về các nghiên cứu đã xuất bản gần đây trong lĩnh vực học tập điện tử. Chin Fei Goh và cộng sự (2017) đã thực hiện bài nghiên cứu “Students' experiences, learning outcomes and satisfaction in e-learning” có mục đích kiểm tra xem liệu trải nghiệm của sinh viên trong học tập trực tuyến có liên quan đến kết quả học tập và sự hài lòng hay không. Ba trải nghiệm học tập, đó là thiết kế khóa học, tương tác với người hướng dẫn và tương tác với sinh viên đồng cấp được xác định là những yếu tố dự báo về kết quả học tập và sự hài lòng.
Các bảng câu hỏi trên giấy đã được phân phát cho các sinh viên tại một trường đại học ở Malaysia. Tổng cộng đã thu được 670 câu trả lời hợp lệ. Phân tích nhân tố khám phá được thực hiện để xác nhận cấu trúc nhân tố cơ bản cho các biến quan sát. Các phân tích hồi quy chỉ ra rằng thiết kế khóa học, tương tác với người hướng dẫn và tương tác với sinh viên đồng cấp có liên quan tích cực đến kết quả học tập và sự hài lòng.
Trong số tất cả các trải nghiệm học tập, tương tác với sinh viên đồng cấp đóng góp mạnh nhất vào kết quả học tập và sự hài lòng. Nghiên cứu này cho thấy tầm quan trọng của các nhà quản lý và giảng viên Đại học trong việc thiết kế khóa học e-learning để tối ưu trải nghiệm của sinh viên để nâng cao kết quả học tập và sự hài lòng của họ. Tình hình nghiên cứu trong nước. Các nền tảng học trực tuyến đã xuất hiện ở Việt Nam từ khá lâu chủ yếu để triển khai các khóa học ngắn hạn, các khóa học về kỹ năng.
Tuy nhiên trong bối cảnh đại dịch covid-19, để phục vụ giãn cách xã hội và đảm bảo bảo việc học tập của học sinh sinh viên, các cơ sở giáo dục đã triển khai hình thức học trực tuyến cho tất cả các chương trình và hệ đào tạo. Các doanh nghiệp cung cấp các nền tảng học trực tuyến được hưởng lợi từ bối cảnh này khi số lượng người dùng tăng lên nhanh chóng. Cũng từ đó rất nhiều các nghiên cứu trong nước đã được thực hiện nhóm nghiên cứu các 11 nhân tố tác động đến sự hài lòng người học trực tuyến. Một số nghiên cứu tiêu biểu bao gồm: Vũ Thúy Hằng và Nguyễn Mạnh Tuân (2013) đã tiến hành triển khai nghiên cứu đề tài “Tích hợp các yếu tố ảnh hưởng đến hài lòng của người học vào hệ thống e- Learning: một tình huống tại Trường Đại học Kinh tế - Luật”.
Bài nghiên cứu xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người học đối với học trực tuyến (e- learning) triển khai tại Trường Đại học Kinh tế - Luật. Dữ liệu được thu thập từ khảo sát trong phạm vi 40 sinh viên và được vận dụng phân tích bằng công cụ Fuzzy AHP. Kết quả mang lại là các nhân tố như tính dễ sử dụng, giảng viên nhiệt tình với sinh viên và tài nguyên học tập được cập nhật có tác động mạnh nhất tới sự hài lòng của người học. Các đặc điểm này được cài đặt vào e-learning và sau đó sự hài lòng của sinh viên sẽ được xem xét và tiến hành tái đánh giá.
Cuối cùng, các yếu tố cần thiết cho sự thành công trong triển khai e-learning được đưa ra khẳng định. Bài nghiên cứu “Does e-learning service quality influence e-learning student satisfaction and loyalty? Evidence from Vietnam.” của Long Phạm và các cộng sự (2019) xem xét các mối quan hệ giữa các thuộc tính chất lượng dịch vụ e-learning, chất lượng dịch vụ e-learning tổng thể, sự hài lòng của sinh viên e-learning và lòng trung thành của sinh viên e-learning trong bối cảnh Việt Nam, một quốc gia mới nổi. Dữ liệu khảo sát thu thập từ 1232 sinh viên đại học được phân tích bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá, phân tích nhân tố xác nhận và mô hình hóa phương trình cấu trúc sử dụng SPSS 25 và SmartPLS 3. Kết quả chỉ ra rằng chất lượng dịch vụ e- learning là cấu trúc bậc hai bao gồm ba yếu tố, đó là chất lượng hệ thống e-learning, người hướng dẫn e-learning và chất lượng tài liệu khóa học, và chất lượng dịch vụ hỗ trợ và quản trị e-learning.
Chất lượng hệ thống e-learning là khía cạnh quan trọng nhất của chất lượng dịch vụ e-learning tổng thể, tiếp theo là chất lượng của người hướng dẫn và tài liệu khóa học về e-learning, và chất lượng dịch vụ hỗ trợ và quản trị e- learning.