Chương 1: Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và một số hàm ý quản trị. 4 CHƯƠNG 2 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN cứu 2.1 Các khái niệm có liên quan 2.1 Sự hài lòng Tse và Wilton (1998) Sự hài lòng của khách hàng có thể được định nghĩa là phản ứng tích cực của khách hàng sau khi trải qua trải nghiệm sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ, khi họ cảm thấy rằng họ đã nhận được giá trị tốt hon, hoặc đạt được kỳ vọng mà họ đã kỳ vọng từ sản phẩm hoặc dịch vụ đó. Theo Zeithaml và Bitner (2000) cho rằng Có mối tưong quan giữa sự hài lòng của khách hàng và chất lượng dịch vụ, trong đó sự hài lòng thường phản ánh chất lượng của dịch vụ được cung cấp. Ngoài ra, mối quan hệ tổng quan giữa giá cả, chất lượng sản phẩm và chất lượng dịch vụ đều ảnh hưởng đến sự hài lòng nói chung của khách hàng.
Điều này đồng nghĩa vói việc khi khách hàng cảm thấy rằng họ đã nhận được giá trị đúng đắn cho số tiền họ chi trả, và khi sản phẩm và dịch vụ đều đáp ứng được mong đợi và chất lượng mong muốn của họ, họ sẽ có xu hướng cảm thấy hài lòng. Hansemark và Albinsson (2004) Sự hài lòng của khách hàng là cảm xúc tổng thể hoặc thái độ của khách hàng đối với một nhà cung cấp dịch vụ. Nó được đo lường thông qua sự khác biệt giữa những gì khách hàng mong đợi trước và những gì họ thực sự trải qua sau khi sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ, và đối vói mức độ đáp ứng của nhà cung cấp đối với nhu cầu, mục tiêu hoặc mong muốn của khách hàng. Sự hài lòng của khách hàng là trạng thái tâm lý liên quan đến thái độ của họ đối vói nhà cung cấp dịch vụ.
Khách hàng hài lòng thường sử dụng dịch vụ thường xuyên hơn và giúp tăng cường mối quan hệ với nhà cung cấp, trong khi khách hàng không hài lòng thường chia sẻ trải nghiệm tiêu cực và có thể ảnh hưởng đến danh tiếng và lợi nhuận của doanh nghiệp.2 Địch vụ Gronroos (1990) nói là nịch vụ là các hành động hoặc chuỗi các hành động không vật chất thường xảy ra trong tương tác giữa khách hàng và nhân viên, cung cấp nguồn lực vật chất hoặc hệ thống để giải quyết các vấn đề hoặc nhu cầu của khách hàng. Bùi 5 Nguyên Hùng (2004) cho rằng các dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ thẻ, được coi là nguồn thu nhập chính của các ngân hàng và có tác động quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của họ. Dịch vụ thẻ là một dạng dịch vụ ngân hàng mới được phát triển nhờ vào sự tiến bộ của khoa học và công nghệ. Vói những tính năng tiện ích và ưu việt, dịch vụ này nhanh chóng trở nên phổ biến và thay thế việc thanh toán bằng tiền mặt là phưong thức chính.
Ngày nay, dịch vụ thẻ đang ngày càng được phát triển và sử dụng rộng rãi hơn trong các giao dịch thanh toán tại Việt Nam.3 Ch ất lượng dịch vụ Có nhiều định nghĩa về CLDV nhưng hầu hết đều thống nhất rằng CLDV được quyết định bởi trải nghiệm của khách hàng. Mỗi khách hàng đều có những yêu cầu và quan điểm cá nhân riêng, điều này ảnh hưởng đến cách họ nhìn nhận chất lượng dịch vụ mà họ nhận được. Edvardsson và cộng sự. (1994) định nghĩa CLDV là sự thỏa mãn nhu cầu và nhận thức của khách hàng trong quá trình họ sử dụng dịch vụ.
Theo Lewis và Mitchell (1990) và Dotchin và Oakland (1994) cho rang CLDV là khả năng đáp ứng được nhu cầu hoặc mong đợi của khách hàng. Theo Parasuraman và cộng sự. (1988) định nghĩa CLDV là mức độ mà sự mong đợi của khách hàng và đánh giá của họ về kết quả của dịch vụ khác nhau. Chất lượng dịch vụ thẻ là khả năng đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng khi sử dụng thẻ.
để cải thiện, tạo dựng và mở rộng mối quan hệ lâu dài với khách hàng bằng cách đảm bảo sự hài lòng của khách hàng. Mối liên hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng.4 Thẻ ghi nợ nội địa Thẻ ghi nợ nội địa là loại thẻ được phát hành bởi các ngân hàng, dùng để giao dịch không dùng tiền mặt và chỉ sử dụng ở quốc gia đã phát hành thẻ. Thẻ ghi nợ nội địa sẽ được liên kết với tài khoản ngân hàng của bạn. Qua đó, chủ thẻ có thể dùng để mua sắm, thanh toán chi tiêu, rút tiền tại các cây ATM, chuyển khoản với hạn mức bằng số dư hiện có trong tài khoản.
6 Thẻ ghi nợ nội địa là một trong những loại thẻ được sử dụng thịnh hành nhất hiện nay vói những đặc điểm co bản như: (1) Chuyển và rút tiền nhanh chóng tại bất kỳ cây ATM nào trên toàn quốc, kể cả khác ngân hàng. (2) Thanh toán trực tiếp tại các cửa hàng thông qua máy POS mà không cần dùng tiền mặt. (3) Có thể đăng ký dịch vụ Internet Banking để thực hiện các tác vụ mua sắm online, thanh toán chi tiêu và quản lý số dư trực tuyến. (4) Giữ tài sản an toàn hon vì không cần mang nhiều tiền mặt trong người.
(5) Nạp tiền vào tài khoản tại các điểm giao dịch nào của ngân hàng phát hành thẻ. (6) Nhận nhiều ưu đãi từ các nhà cung cấp dịch vụ khi khách hàng thanh toán online.5 Dịch vụ thể tại ngân hàng thương mại Thẻ ghi nợ được gọi là ATM là thẻ mà ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng thẻ theo các điều khoản của thỏa thuận mà họ đã ký. Thẻ ghi nợ là thẻ điện tử được ngân hàng cung cấp cho khách hàng, cho phép họ rút tiền từ tài khoản ngân hàng của mình. Thẻ ghi nợ được dùng để thanh toán các đon vị chấp nhận thẻ hoặc rút tiền từ máy ATM.
Thẻ ghi nợ không có quan hệ vay mượn giữa ngân hàng và chủ thẻ. Hầu hết các loại thẻ ATM ngày nay đều được cấu tạo bằng nhựa cứng (plastic), có kích cỡ 84mm X 54mm X 0.76mm, có góc tròn, gồm hai mặt chứa đựng đầy đủ các nội dung liên quan tới chủ tài khoản, số dư, hạn mức, số pin.Việc tiếp nhận thanh toán bằng thẻ phải có hợp đồng thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng khi phát hành thẻ hoặc thanh toán thẻ vói đon vị chấp nhận thẻ. Như vậy, dịch vụ thẻ là một phưong thức thanh toán mà ngằn hàng phát hành cho khách hàng để họ có thể sử dụng nó để mua hàng, rút tiền mặt từ tiền gửi của mình hoặc cả hai. Hon nữa, thẻ được sử dụng để thực hiện các giao dịch bằng hệ thống giao dịch tự động, thường được gọi là hệ thống dịch vụ ATM.
Ngân hàng phát hành thẻ, ngân hàng thanh toán thẻ (tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thẻ) có trách nhiệm hướng dẫn đầy đủ tất cả quy trình thanh toán thẻ cho các đon vị chấp nhận thẻ. Đon vị chấp nhận thẻ: Khi chủ thẻ xuất trình thẻ mua bán hàng hóa, dịch vụ, đon vị chấp nhận thẻ phải sử dụng máy chuyên dùng kết hợp với việc kiểm tra bằng mắt để 7 kiểm tra. Sau khi kiểm tra nếu thẻ đầy đủ điều kiện thanh toán, đơn vị chấp nhận thẻ lập hóa đơn thanh toán hàng hóa, dịch vụ, yêu cầu chủ thẻ ký trên hóa đơn thanh toán, đối chiếu chữ ký trên hóa đơn với chữ ký của chủ thẻ trên thẻ (nếu có). Đơn vị thanh toán thẻ: Nhận được bảng kê kèm các hóa đơn thanh toán của đơn vị chấp nhận thẻ gửi đến, sau khi đi kiểm tra đủ điều kiện thanh toán, ngân hàng thanh toán thẻ có trách nhiệm thanh toán ngay cho đơn vị chấp nhận thẻ.
Có thể kể đến các dịch vụ thẻ được ngân hàng cung cấp phổ biến hiện nay như: - Phát hành những dòng sản phẩm thẻ cao cấp với nhiều tính năng và ưu đãi vượt trội, để tạo thêm nhiều lựa chọn cho khách hàng như: sản phẩm thẻ American Express Centurion, Visa infinite, World MasterCard, MasterCard Platinum. -Phát triển thanh toán thẻ qua các thiết bị chấp nhận thẻ tại các điểm bán hàng, thiết bị chấp nhận thẻ (ATM, EDC/POS), thanh toán trực tuyến với công nghệ 3D Secure, verified by Visa, sử dụng công nghệ QR code, thanh toán qua thiết bị di động (Moca/Visa), liên kết với các ví điện tử. - Triển khai chip hóa thẻ nội địa theo lộ trình củaNHNN; Triển khai EMV contactless cho các sản phẩm thẻ. - Thanh toán trực tuyến qua thẻ, thanh toán qua internet banking, mobile banking, thanh toán qua hệ thống của đối tác trên nền tảng core banking cung 15 cấp mua sắm trực tuyến ngay trên ứng dụng ngân hàng thay vì qua ứng dụng khác như Shopee, Lazada.
thanh toán điện nước, trả phí mua vé máy bay, thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, trả cước phí internet và rất nhiều hình thức thanh toán kết nối giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp và doanh nghiệp với từng cá nhân. Dịch vụ gửi tiền tiết kiệm. Rút tiền gửi FD Online, rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động 24/24, chuyển tiền nhanh liên ngân hàng 24/7. Chất lượng dịch vụ thẻ ATM tại các ngân hàng thương mại là mang đến khách hàng khi sử dụng thẻ sự hài lòng và thỏa mãn được nhu cầu mình sử dụng cao nhất có thể góp phần nâng cao chất lượng hài lòng khách hàng và nâng cao chất lượng đời sống người dân trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi 8 2.1 Thuyết nhu cầu của Maslow (1943) Theo Abraham Maslow (1943) nhu cầu của một con người được phân theo những cấp bậc khác nhau mang đến các phản ánh theo mức độ và tính chất vói tháp nhu cầu.
Nó mang đến sự hài lòng cơ bản cho họ ở những nhu cầu phía dưới. Sau đó, những nhu cầu cao có cơ sở để được thực hiện trên thực tế và phù hợp khả năng. Thuyết nhu cầu là một trong những lý thuyết nổi tiếng nhất về động lực, hệ thống phằn cấp nhu cầu được sử dụng rộng rãi trong kinh doanh, tiếp thị và nguồn nhân lực, cùng các lĩnh vực khác. Theo lý thuyết này, Maslow chia nhu cầu của con người thành năm loại và sắp xếp chúng theo thứ tự quan trọng tăng dần: Nhu cẩu sinh lý: Nhu cầu cơ bản nhất nằm ở đáy của kim tự tháp.
Đây là những nhu cầu về sinh lý và cũng gần như là nhu cầu nguyên thủy. Những đòi hỏi về thể chất cho sự sống còn của con người.