Chương 1 »⁄ Mo đầu 1.1 Giới thiệu van dé Metagenomics, khoa hoc về gen ở một quy mô lớn (genomics on a huge scale), là một công cụ hữu hiệu có thé được sử dung dé phân tích các cộng đồng vi sinh vật mà không cần phân lập riêng từng cá thể để nuôi cấy trong phòng thí nghiệm như cách làm truyền thống. Thuật ngữ metagenome được đặt tên bởi Handelsman năm 1998 như là "các bộ gen của tất cả các vi sinh vật được tìm thấy trong tự nhiên" [1]. Mục tiêu cuối cùng của metagenomics là một sự hiểu biết toàn diện về hệ sinh thái của chúng ta. Các công cụ của gen học và vi sinh học cổ điển chủ yêu dựa vào tách các loài vi sinh vật trong các môi trường nuôi cấy thuần chủng, môi trường chỉ chứa các vi sinh vật của một loài cụ thể.
Điều này có nghĩa rằng phần lớn của thế giới vi sinh vật không thể được tiếp cận bởi khoa học vi chỉ một phan nhỏ - hầu hết các nhà khoa học ước tính ít hơn 1% loài vi sinh vật trên Trái đất - có thể được nuôi cấy. Bằng cách cho phép các nhà khoa học để truy cập vào hệ gen của một cộng đồng mà không dựa vào môi trường nuôi cây thuần chủng, metagenomics vượt qua những hạn chê của gen học và vi sinh vật học cổ điển [1]. Một mẫu đữ liệu metagenomic chứa các đoạn trình tự từ các vi sinh vật khác nhau. Vì vậy, một van dé quan trọng trong phân tích dữ liệu metagenomic là xác định và định lượng các loài hay bộ/hệ gen (genomes) trong một mẫu.
Việc xác định các nhóm trình tự liên quan về mặt huyết thống trong một tập dữ liệu metagenomic thường được gọi là phân loại (binning). Bài toán này được phát biểu khá đơn giản như sau: "Cho một tập dữ liệu metagenomic, làm sao có thể gom các trình tự (read) theo hệ gen?" Giải quyết bài toán này cho phép các nhà nghiên cứu metagenomic đánh giá tiểm năng trao đổi chất của cộng đồng vi sinh vật, từ đó có thể trả lời những câu hỏi sâu sắc hơn sự tiền hóa, sự đa dạng, và chức năng của các vi sinh vật. Tuy nhiên, việc phân loại dữ liệu metagenomic có một số thách thức đặc thù. Thứ nhát, số loài vi sinh vật có thể được phân lập để nuôi cấy trong phòng thí nghiệm chỉ chiếm khoảng 0.1% đến 1% trong tổng số vi khuẩn từ môi trường [6].
Do vậy, hầu hết các trình tự của dữ liệu metagenomic không có trong cơ sở đữ liệu tham khảo. Điều này làm cho việc phân loại gặp khó khăn hơn nhiều. Thit hai, chiều dài khá ngắn của các read cũng là một trở ngại cho việc phân loại. Các read ngắn có thể không chứa đủ thông tin về huyết thông (phylogenetic information).
Cudi cùng, khác với các loại dữ liệu như văn bản hay ảnh, dữ liệu trình tự sinh học như metagenomic không có các đặc trưng rõ ràng, điều nay cũng là một van dé cần phải giải quyết cho bài toán phân loại metagenomic.2 Muc tiêu Phân loại (binning) là một bai toán can ban trong phân tích dữ liệu metage- nomic bởi vì độ chính xác của quá trình phân loại có tác động trực tiếp vào các phân tích tiếp theo sau và các kết luận khác thường được rút ra từ chúng. Các mô hình chủ dé (topic models) thường được sử dụng để khám phá ra câu trúc chủ dé của tập dữ liệu. Các thử nghiệm gần đây [7, 8] cho rằng đây là một phương pháp hứa hẹn cho phân tích dữ liệu metagenomic. Do đó, trong đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu bài toán phân loại dữ liệu metagenomic sử dụng các mô hình chủ dé.
Cụ thể, chúng tôi sẽ nghiên cứu các vân dé sau: e Sử dụng mô hình chủ dé như một kỹ thuật thu giảm số chiều để biểu diễn trình tự metagenomic và sử dụng nó cho việc gom nhóm trình tự, e Nghiên cứu sự hữu ích của các đặc trưng của mô hình LDA tạo ra cho việc cho việc gom nhóm trình tự. 13 GiGi hạn Trong đề tài này, chúng tôi chủ yếu thực hiện việc phân các trình tự trong metagenomic vào các nhóm. Việc phân nhóm này chưa yêu cau phải đưa ra được kết luận nhóm đó thuộc giống loài nào trên cây phân loại. Tuy đầu ra của phương pháp chưa đưa ra được kết quả như mong muốn của các nhà nghiên cứu sinh học, đây là bước quan trọng trong việc phân loại trình tự metagenomic mà không sử dụng đến cơ sở dit liệu tham chiếu.4 Bo cục cua luận văn Cấu trúc của luận văn dự định được trình chia thành các chương như sau: e Chương 2: Kiến thức cơ sở: trình bày các kiến thức cơ sở về metagenomic và mô hình chủ dé.
e Chương 3: Các nghiên cứu liên quan: trình bày các nghiên cứu liên quan đến bài toán phân loại trình tự metagenomic. 4 e Chương 4: Phân loại metagenomic dựa trên mô hình chủ dé: trình bay cách sử dụng mô hình chủ đề cho bài toán phân loại metagenomic. e Chương 5: Thực nghiệm và đánh giá: trình bày kết quả thực nghiệm của phương pháp dé xuất và so sánh với các phương pháp đã có. e Chương 6: Kết luận: trình bay phan tổng kết của dé tài, các ưu khuyết điểm và các hướng phát triển.
Chương 2 Kiến thức co sở 2.1 DNA, gennome va metagenome 2.1 DNA DNA (deoxyribonucleic acid) là một phân tử mang các thông tin di truyền được sử dụng trong sự tăng trưởng, phát triển, hoạt động và sinh sản của tất cả các sinh vật sông. DNA va RNA (ribonucleic acid) là axit nucleic, cùng với các protein, lipid và các carbohydrate phức tạp (polysaccharides), là một trong bốn loại đại phân tử chính cần thiết cho tất cả các hình thức của sự sống. Hầu hết các phân tử DNA bao gồm hai chuỗi biopolymer cuộn quanh nhau tạo thành một chuỗi xoắn kép. Hai chuỗi biopolymer được gọi là các polynucleotides vì chúng bao gồm các đơn vị monomer đơn giản gọi là nucleotide [9].
Mỗi nucleotide bao gồm một trong bốn nucleobase chứa nitd - cytosine (C), guanine (G), adenine (A) hoặc thymine (T) - một loại đường được gọi là deoxyribose và một nhóm phosphate. Câu trúc của một phân tử DNA được mô tả bởi hình 2. Paired nucleotides Hình 2.1: Cau trúc của một phân tử DNA 2.2 Genome Trong sinh hoc phân tử hiện dai va di truyền học, một bộ gen hay hệ gene (genome) là vật chất di truyền của một sinh vật, được mã hóa trong DNA (ở một số virus có thể là RNA). Bộ gen bao gồm cả những vùng chứa gen (các vùng mang mã di truyén - coding regions) lẫn những đoạn không phiên mã (noncoding re- gions), cũng như các vật liệu di truyền của ty thé (mitochondria) và các luc lap (chloroplasts).
Genomics (gen học) là một ngành học trong lĩnh vực sinh hoc phan tử (molecular biology) nghiên cứu về các bộ gen. Genomics sử dụng các kỹ thuật giải trình tự DNA thông lượng cao (high throughput DNA sequencing) và tin sinh học (bioinformatics) để tập hợp (assemble) và phân tích chức năng cũng như cấu trúc của các bộ gen.3 Metagenome Metagenome là tất cả các vật chất di truyền có trong một mẫu môi trường (environmental sample), bao gồm các bộ gen của nhiều sinh vật riêng lẻ. Metage- nomics là khoa học về metagenome. Nó là ngành học nghiên cứu vật chất di truyền thu được trực tiếp từ các mẫu môi trường.
Lĩnh vực cũng có thể được gọi là environ- mental genomics, sinh thái học (ecogenomics) hoặc community genomics. Khi giá thành của việc giải tự DNA ngày càng giảm nhờ những tiến bộ trong công nghệ giải trình tự, metagenomics cho phép nghiên cứu sinh thái vi sinh ở quy mô và chỉ tiết lớn hơn trước rất nhiều. Metagenomics còn được gọi là khoa học về gen ở một quy mô lớn (genomics on a huge scale).2 mô ta sự khác nhau giữa genomics va metagenomics. Dữ liệu metagenomic chứa các đoạn trình tự từ các vi sinh vật khác nhau.
Cac nghiên cứu về metagenomics có thể cho phép các nhà khoa học hiểu rõ hơn cách thức các loài (species) và chủng (strains) đóng góp vào hoạt động của cộng đồng vi sinh vật trong một môi trường cụ thể [10]. Ngoài ra, các nghiên cứu này cũng có thể cho phép tái tạo lại bộ gen gần như day đủ của các thành viên chủ đạo của cộng đồng vi sinh vật từ DNA được trích xuất trực tiếp từ môi trường. Trình tự bộ gen từ các mẫu môi trường (environmental samples) thể hiện các đặc điểm tổng hợp của quan thể. So sánh các dữ liệu trình tự/chuỗi (sequence data) trong và giữa các quan thể tự nhiên có thể tiết lộ các quá trình tiễn hóa dẫn đến sư đa dạng và biệt hóa hệ gen (genome diversification and speciation).
Từ đó, nó có thể tiết lộ cách thức các loài và chủng đóng góp vào hoạt động của cộng đồng [10]. ——————————c- ——— metagenomics | '=—————* er isolation > DNA of DNA ~ fromthe» | Knowledge ~~~| application ——————% ——————& Metagenomics can in principle access 100% of the genetic [nowle 3s) — isolation | resources of an environment. application | of ONA Cine mere Sultivalable ‘ss. : pace __J~~ Traditional cultivation methods oe rs and traditional genomics can at.
ea | genomics ki“ best access 1%.2: Genomics va metagenomics [1] 2.2 Giải trình tự DNA Giải (lập) trình tự DNA (DNA sequencing) là quá trình xác định thứ tự chính xác của các nucleotide trong một phân tử DNA. Nó bao gồm bất kỳ phương pháp hay công nghệ được sử dung để xác định thứ tự của bốn bazơ (base): adenine (A), guanine (G), cytosine (C) và thymine (T) trong một trình tự DNA. Việc phát minh ra những công nghệ lập trình tự thé hệ mdi (next-generation sequencing - NGS) trong khoảng một thập niên trở lại đây đã thay đổi các nghiên cứu về metagenomics. Các công nghệ lập trình tự thé hệ mới (còn được gọi là các công nghệ lập trình tự thông lượng cao, high-throughput sequencing) thay vi lập trình tự một đoạn DNA đơn (a single DNA fragment), thực hiện quá trình này hàng triệu lần một cách song song với chi phí giảm đi đáng kể.
Quá trình giải trình tự shotgun từ môi trường (Environmental Shotgun Sequencing, ESS) được mô ta ở hình 2. Các bước của quá trình này gôm: (A) Thu mẫu từ môi trường: (B) sàng lọc mẫu theo kích cỡ; (C) phân tích va phân lập DNA; (D) nhân dong và lập thư viện; (E) giải trình tự các dòng (clones); (F) ghép nối trình tự (sequence assembly) để tạo thành các contig và scaffold.3: Quá trình giải trình tu shotgun từ môi trường [2] Trước khi có NGS, lập trình tự DNA chính là nút thắt cổ chai trong việc nghiên cứu về metagenomics. Sau khi các công nghệ NGS được phát minh, nút thắt cổ chai trở thành việc phân tích và diễn giải các kết quả đã lập trình tự được.