CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Dịch tễ ung thư dạ dày 1. Trên thế giới Ung thư dạ dày hiện nay vẫn là một loại ung thư quan trọng trên toàn thế giới. Nó là nguyên nhân gây ra hơn một triệu ca mắc mới vào năm 2020 và ước tính có khoảng 769.000 ca tử vong (tương đương với cứ 13 ca tử vong trên toàn cầu thì có một ca do UTDD), xếp thứ năm về tỷ lệ mắc và thứ tư về tỷ lệ tử vong trên toàn cầu [106].
Tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới trung bình cao gấp 2 lần so với nữ giới (lần lượt là 15,8 và 7,0 trên 100.000) với sự khác biệt giữa các quốc gia. Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất là ở khu vực các nước Đông Á với cả nam và nữ (lần lượt là 32,5 và 13,2); nam giới cư trú tại Nhật Bản (48,1), Mông Cổ (47,2) và Hàn Quốc (39,7) có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất thế giới. Tỷ lệ mắc thấp nhất ở khu vực Châu Phi với tỷ lệ mắc < 5 trên 100. Gánh nặng hàng năm của ung thư dạ dày được dự đoán sẽ tăng lên 1,8 triệu ca mắc mới và 1,3 triệu ca tử vong vào năm 2040 [86].
Tỷ lệ sống sót sau 5 năm ở giai đoạn sớm là 77,7%, trong khi giai đoạn tiến triển là 10,2% [73]. Tỷ lệ mắc bệnh theo tuổi, giới tính đối với ung thư dạ dày năm 2020. Việt Nam Hình 1. Số ca ung thư mắc mới Việt Nam 2020 [54] Một trong những nguyên nhân gây ung thư dạ dày nói riêng và ung thư nói chung là vấn đề ô nhiễm thực phẩm đang ở mức báo động tại Việt Nam.
Theo công bố của Cơ quan nghiên cứu ung thư Quốc tế ( IARC: International Agency for Research on Cancer) năm 2020, Việt Nam thuộc nhóm nước có tỷ lệ mắc ung thư dạ dày cao nhất thế giới. Với dân số hơn 97 triệu người có 182.563 trường hợp mắc mới ung thư trong năm 2020. Trong đó ung thư dạ dày lên đến 17.906 ca mắc mới chiếm 9,8% đứng thứ 4 sau ung thư gan, phổi và ung thư vú [54]. Các yếu tố nguy cơ của ung thư dạ dày Ung thư dạ dày là một bệnh đa yếu tố, hậu quả của tương tác phức tạp giữa yếu tố cơ thể với môi trường, trong đó đáng lưu ý nhất là tình trạng nhiễm Helicobacter pylori (H.
pylori được phát hiện vào năm 1982 bởi hai nhà khoa học Australia Robin Warren và Barry Marshall. pylori được công nhận là tác nhân ung thư loại I, và hiện nay nó được xem là tác nhân gây bệnh phổ biến nhất của các loại ung thư liên quan đến lây nhiễm [93]. Khoảng một nửa dân số thế giới, xấp xỉ 4,4 tỷ người bị nhiễm H. Trong đó tỷ lệ nhiễm H.
pylori thấp nhất là ở Thụy Sĩ (18,9%) cao nhất là 5 Nigeria (87,7%) [49]. Mối liên hệ giữa H. pylori và UTDD là vấn đề được các nhà nghiên cứu tranh luận trong nhiều năm. Một nghiên cứu từ Nhật Bản trên 1526 bệnh nhân kết luận rằng nhiễm H.
pylori có liên quan đáng kể với nguy cơ phát triển UTDD [111]. Các nghiên cứu ngẫu nhiên cũng chỉ ra rằng việc tiêu diệt H. pylori sẽ làm giảm đáng kể sự xuất hiện của các tổn thương tiền ung thư, cung cấp thêm cho chúng ta bằng chứng thấy rằng H. pylori có ảnh hưởng đến giai đoạn sớm của UTDD [85].
Từ đó ta thấy rằng, H. pylori có vai trò trong sự phát triển của ung thư dạ dày và các liệu pháp chống H. pylori có thể là một biện pháp hiệu quả để phòng ngừa ung thư dạ dày. Các yếu tố độc lực liên quan đến cơ chế bệnh học của H.pylori bao gồm CagA, độc tố tế bào A (VacA), protease HtrA, lipopolysaccharide (LPS) và một số yếu tố khác.
Trên thực tế CagA là một trong những yếu tố được nghiên cứu nhiều nhất. Theo một nghiên cứu của Trần Văn Huy, tác giả thấy rằng tỷ lệ CagA (+) ở bệnh nhân UTDD là 58% và ở nhóm chứng là 10% (p=0,0001), với OR = 12,43; tỷ lệ VacA (+) ở nhóm UTDD là 52%, so với nhóm chứng là 15% (p=0,0002), với OR = 6,14 [8]. Yếu tố môi trường Nhiều nghiên cứu cho thấy nhóm nguy cơ môi trường quan trọng nhất là chế độ ăn uống, hút thuốc lá và nhiễm H. - Một chế độ ăn uống cân bằng được coi là vấn đề quan trọng để tránh viêm dạ dày và UTDD.
Nhiều nghiên cứu cho thấy rượu, thực phẩm chế biến sẵn, ăn nhiều muối, ăn nhiều chất béo và thực phẩm có sản phẩm từ động vật (thịt, trứng và sữa) làm tăng nguy cơ mắc bệnh UTDD [80]. Ngoài ra chế độ ăn nhiều ngũ cốc, trái cây, rau, quả hạch và ít muối được cho là làm giảm nguy cơ ung thư dạ dày [80]. - Sử dụng thuốc lá đã được chứng minh là làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày. Theo một nghiên cứu tổng quan 2020: Đo lường tác động tổng thể cho thấy việc hút thuốc hiện tại làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày lên 61% [97].
6 - Tiền sử có phẫu thuật cắt dạ dày: Tăng nguy cơ ung thư dạ dày sau phẫu thuật dạ dày. Rủi ro phụ thuộc vào lý do phẫu thuật ban đầu và loại phẫu thuật. Khoảng thời gian giữa phẫu thuật dạ dày ban đầu đối với bệnh lành tính và sự phát triển của ung thư biểu mô gốc dạ dày là khoảng 30 năm hoặc hơn, so với 12 năm nếu đã phẫu thuật ung thư dạ dày trước đó [107]. - Nội tiết tố sinh dục nữ: Tỷ lệ ung thư dạ dày ở nữ thấp hơn đáng kể so với nam [25].
Có thể là do tác dụng bảo vệ của estrogen có thể làm giảm nguy cơ ung thư dạ dày ở phụ nữ [75], [125]. Nguy cơ ung thư dạ dày giảm xuống khi mãn kinh muộn và tăng khả năng sinh sản. Nguy cơ gia tăng có thể thấy khi dùng thuốc kháng estrogen, ví dụ tamoxifen. Sau khi mãn kinh, tỷ lệ mắc ung thư dạ dày ở phụ nữ tương tự như ở nam giới, nhưng với thời gian trễ hơn từ 10 đến 15 năm [26].
Yếu tố khác - Yếu tố di truyền: Interleukin (IL)-10 là một cytokine được mã hóa bởi gen IL10. L-10 tiết ra có thể liên quan đến cơ chế bệnh sinh của UTDD và tăng nguy cơ UTDD [32]. - Theo một nghiên cứu của Trung Quốc, nhóm máu A có nguy cơ UTDD cao hơn các nhóm máu khác [131]. Tuy nhiên, vấn đề này khó có thể dự phòng cấp I được nhưng cũng có thể ưu tiên sàng lọc cho những người có nguy cơ cao.
- Polyp dạ dày: Một số loại polyp dạ dày có khả năng ung thư hóa. Tuy vậy trái ngược với đại tràng nơi hầu hết ung thư phát triển từ polyp, hầu hết polyp trong dạ dày có nguy cơ ác tính thấp. Tuy nhiên, polyp dạ dày cũng có thể gây ung thư và có một số yếu tố nguy cơ và cơ chế chung với ung thư dạ dày [113]. Cơ chế bệnh sinh của ung thư dạ dày Cơ chế bệnh sinh của ung thư dạ dày là một quá trình rất phức tạp, bao gồm sự tương tác của nhiều yếu tố như yếu tố di truyền, yếu tố môi trường.
7 Hiện nay tồn tại nhiều cách khác nhau để giải thích cho sự phát sinh ung thư dạ dày. Giả thuyết mô tả bởi Correa (1975) được chấp nhận rộng rãi để giải thích cho sự phát sinh ung thư dạ dày. Correa đã đề xuất một mô hình nhiều bước của sự phát sinh ung thư dạ dày theo bằng chứng từ các nghiên cứu dịch tễ và lâm sàng [28]. Viêm teo dạ dày là một bước thiết yếu trong quá trình tiến triển thành ung thư dạ dày và Correa cũng chỉ ra mô hình phát sinh ung thư dạ dày theo trình tự: viêm dạ dày mạn tính - viêm teo dạ dày - chuyển sản, loạn sản - ung thư biểu mô dạ dày [28].
Dạ dày bình thường Viêm mãn tính Viêm teo dạ dày Chuyển sản ruột Loạn sản ruột Ung thư dạ dày Hình 1. Cơ chế bệnh sinh của ung thư dạ dày [41] 1. Phân loại ung thư dạ dày Hiện có nhiều hệ thống khác nhau được sử dụng để phân loại ung thư dạ dày. Các hệ thống này đều dựa trên đặc điểm giải phẫu và mô bệnh học.
Vị trí Người ta chia UTDD thành 2 loại là ung thư tâm vị và ung thư không thuộc tâm vị do đặc điểm dịch tễ, bệnh nguyên, mô bệnh học, điều trị và tiên lượng của của hai loại rất khác nhau [139]. UTDD không thuộc tâm vị thường gặp hơn các nước đang phát triển, người da đen và những người có điều kiện kinh tế thấp, trong khi ung thư tâm vị phổ biến hơn ở nước phát triển, người da trắng và những người có điều kiện kinh tế xã hội cao hơn. Tại các nước phát triển, ung thư tâm vị đã tăng đáng kể trong 50 năm qua [77], [118]. Tại một số nước châu Á có nền kinh tế phát triển, tỷ lệ ung thư tâm vị cũng đang tăng.
Nghiên cứu của Deans thấy rằng ung thư tâm vị ở Singapore tăng từ 6,3% lên 20,1% trong vòng hơn 20 năm. UTDD không thuộc tâm vị có liên quan nhiều với tình trạng nhiễm H. pylori mạn tính, trong khi UTDD tâm vị thường là do liên quan với trào ngược dạ dày thực quản mạn tính .Tiên lượng UTDD tâm vị được cho là xấu hơn UTDD không thuộc tâm vị. Deans nhận thấy thời gian sống thêm trung bình của UTDD tâm vị sau phẫu thuật là 26 tháng, thấp hơn nhiều so với 69 tháng của các trường hợp UTDD không thuộc tâm vị (p< 0,001) [34].
Hình ảnh đại thể 1. Phân loại của Borrmann. Dựa trên hình ảnh đại thể, Borrmann (1926) chia ung thư dạ dày thành 4 typ hiện vẫn đang được sử dụng rộng rãi [36]: - Typ I (dạng polyp): là những tổn thương lồi vào lòng dạ dày, không có hoại tử hoặc loét lớn. Loại này thường có bờ rõ.
- Typ II (dạng nấm): là những khối u lồi lên, kích thước thay đổi, hình dáng không đều, có những vùng loét. Trên nền tổn thương đôi khi thấy những tổ chức hoại tử có nhiều màu tím, xám, đỏ sẫm hoặc trắng. 9 - Typ III (dạng loét): là những tổn thương loét không đều, kích thước thay đổi, với bờ rõ, cứng, chắc, gồ lên thẳng góc chứ không xuôi như bờ của typ II. Tổn thương dạng thâm nhiễm lan tỏa không có giới hạn rõ rệt giữa phần tổn thương và niêm mạc dạ dày bình thường.
Phân loại của Hiệp hội Ung thư Dạ dày Nhật Bản Phân loại của Hiệp hội Ung thư Dạ dày Nhật Bản cũng chia UTDD thành 4 thể với hình ảnh đại thể tương tự như như cách phân loại Borrmann.