ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thƣ dạ dày (UTDD) là bệnh lý ác tính phổ biến, đứng hàng thứ 5 và là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 trên toàn thế giới [73]. Tại Việt Nam, UTDD đứng thứ ba trong nh m bệnh lý ung thƣ [25]. Cũng nhƣ hầu hết các loại ung thƣ khác, tiên lƣợng của ung thƣ dạ dày phụ thuộc chủ yếu vào giai đoạn bệnh, phát hiện bệnh càng sớm, tiên lƣợng càng tốt. Chẩn đoán sớm các tổn thƣơng tiền ung thƣ và ung thƣ giai đoạn chƣa di căn giúp cho việc điều trị UTDD hiệu quả hơn, thời gian sống kéo dài, chất lƣợng sống tốt hơn.
Tỷ lệ sống sau 5 năm ở những bệnh nhân UTDD sớm là 85 - 100%, trong khi đ chỉ là 5 - 20% ở giai đoạn tiến triển [35]. UTDD sớm là ung thƣ chỉ giới hạn ở lớp niêm mạc hoặc dƣới niêm mạc với nguy cơ di căn rất thấp. Dựa trên hình ảnh nội soi UTDD, hiệp hội nội soi tiêu h a Nhật Bản đã phân loại UTDD sớm thành 3 týp (týp 0 - I: tổn thƣơng lồi cao > 2,5 mm. Týp 0 - IIa: tổn thƣơng phẳng lồi, cao < 2,5 mm.
Týp 0 - IIb: tổn thƣơng phẳng dẹt. Týp 0 - IIc: tổn thƣơng phẳng lõm. Týp 0 - III: tổn thƣơng c loét và đang đƣợc sử dụng rộng rãi ở nhiều nƣớc trên thế giới, trong đ c Việt Nam [39]. Hiện nay, tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán xác định các tổn thƣơng tại dạ dày vẫn là kết quả giải phẫu bệnh dựa trên mảnh sinh thiết qua nội soi.
Vì vậy, sinh thiết chính xác dƣới hƣớng dẫn của nội soi đ ng vai trò quan trọng trong chẩn đoán UTDD sớm. Nội soi ánh sáng dải hẹp (NBI) là một công nghệ hình ảnh nội soi tiên tiến, đƣợc sử dụng để làm tăng khả năng và độ chính xác trong chẩn đoán UTDD sớm, với độ nhạy và độ đặc hiệu > 95% [33], [43]. Nội soi NBI giúp quan sát đƣợc vi cấu trúc bề mặt và mạch máu của niêm mạc dạ dày, giúp phân biệt đƣợc tổn thƣơng UTDD nhỏ và viêm dạ dày đơn thuần mà thƣờng kh nếu chỉ dùng nội soi thƣờng quy. Vai trò của NBI đã đƣợc chứng minh qua nhiều nghiên cứu, mang lại hiệu quả vƣợt trội 2 trong việc phát hiện tổn thƣơng ung thƣ kích thƣớc nhỏ, kín đáo (< 2cm), đặc biệt là những tổn thƣơng ung thƣ sớm [31], [32].
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, UTDD sớm đã đƣợc quan tâm chú ý nhiều nhƣng tỷ lệ phát hiện còn rất thấp, chỉ xấp xỉ 10%, nên việc phát hiện và chẩn đoán UTDD sớm còn gặp nhiều kh khăn, nghiên cứu về UTDD sớm còn hạn chế. Trong khi việc chẩn đoán sớm ung thƣ giúp ích rất nhiều cho các bệnh nhân cũng nhƣ giảm gánh nặng bệnh tật cho gia đình và xã hội, do đ chúng tôi tiến hành đề tài: “Đặc điểm hình ảnh nội soi ánh sáng dải tần hẹp và mô bệnh học ở bệnh nhân ung thƣ dạ dày sớm tại Bắc Kạn và Thái Nguyên” với mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi ánh sáng dải tần hẹp và mô bệnh học ở bệnh nhân ung thư dạ dày sớm tại một số bệnh viện tại tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên. Phân tích mối liên quan giữa kết quả mô bệnh học với đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi ở bệnh nhân ung thư dạ dày sớm.
3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu và mô học của dạ dày 1. Giải phẫu dạ dày [12], [21] Dạ dày là đoạn phình to nhất của ống tiêu hoá, ở vị trí nối giữa thực quản và tá tràng. Dạ dày c hai thành trƣớc sau, bờ cong lớn và bờ cong nhỏ, tâm vị và môn vị ở hai đầu.
Lần lƣợt từ trên xuống dƣới c : + Tâm vị là vùng rộng khoảng 3 - 4cm nằm kế cận thực quản. Vùng này bao gồm cả lỗ tâm vị là chỗ nối thực quản và dạ dày, không c van đ ng kín, cấu tạo là một nếp niêm mạc. + Đáy vị ở bên trái lỗ tâm vị và ngăn cách với thực quản bụng bởi một khuyết gọi là khuyết tâm vị, là phần phình to hình chỏm cầu, còn đƣợc gọi đáy phình vị. + Thân vị là phần tiếp theo đáy vị, hình ống, đƣợc cấu tạo bởi hai thành và hai bờ.
Giới hạn trên là mặt phẳng qua lỗ tâm vị, giới hạn dƣới là mặt phẳng qua khuyết g c bờ cong nhỏ. + Hang vị là phần nối tiếp theo thân vị hƣớng sang phải và hơi ra sau. + Ống môn vị thu hẹp lại giống cái phễu và đổ vào môn vị. Ở giữa môn vị là lỗ môn vị thông với hành tá tràng.
Hình ảnh giải phẫu dạ dày [6] 4 1. Mô học [4], [12] Cấu tạo của thành dạ gồm 4 lớp, từ trong ra ngoài lần lƣợt là lớp niêm mạc, lớp dƣới niêm mạc, lớp cơ và lớp thanh mạc: - Lớp niêm mạc: trên là biểu mô phủ nằm trên màng đáy, dƣới là lớp đệm chứa mô liên kết thƣa và các nguyên bào sợi, mô bào, tế bào lympho, dƣới cùng là lớp cơ niêm - tạo nên từ các lá cơ trơn mỏng. - Lớp dƣới niêm mạc: ngăn cách với tầng niêm mạc bằng lớp cơ niêm, là mô liên kết thƣa chứa nhiều mạch máu và thần kinh, gồm cả đám rối Meissner – chi phối tƣới máu và tiết dịch dạ dày của tầng niêm mạc. - Lớp cơ: gồm ba lớp cơ trơn, vòng trong, chéo giữa, dọc ngoài, c vai trò chính trong tạo nhu động co b p của dạ dày.
- Thanh mạc và mô liên kết thƣa dƣới thanh mạc 1. Niêm mạc dạ dày Lớp biểu mô: gồm hai phần chính là phần hẻm tuyến (chỗ lõm sâu xuống của biểu mô phủ bề mặt) và phần tuyến sâu (gồm các tế bào chế tiết dịch vào hẻm tuyến). C ba vùng khác nhau của dạ dày, mỗi vùng c một loại tuyến riêng: tuyến tâm vị, tuyến đáy vị, tuyến thân vị. Các tế bào nội tiết rải rác khắp các tuyến của toàn bộ dạ dày.
- Biểu mô phủ bề mặt là nhƣ nhau ở toàn bộ dạ dày, gồm các tế bào biểu mô trụ đơn, chế nhầy, cao 20 - 40 micromet, nhân tròn hay bầu dục nằm ở cực đáy của tế bào, bào tƣơng chứa đầy các hạt nhầy ở cực ngọn, bắt màu hồng nhạt trên nhuộm HE và dƣơng tính với phản ứng Periodic Acid-Schiff (PAS). Dƣới kính hiển vi điện tử, các tế bảo biểu mô nối với nhau bởi các phức hợp cầu nối gian bào, và cấu trúc mộng [7]. Cực ngọn mỗi tế bào phủ bởi các vi nhung mao ngắn đƣợc lợp bởi một chất giàu glycocalyx. - Tuyến đáy vị: thân vị và đáy vị đƣợc đặc trƣng bởi các tuyến đáy vị.
bề dày niêm mạc thay đổi từ 400 đến 1500 micromet với 25% bề dày là phần hẻm tuyến và 75% còn lại là các tuyến sâu mở vào hẻm tuyến. Tuyến đáy vị 5 gồm các ống thẳng vuông g c với bề mặt, kéo dài từ đáy hẻm tuyến đến sát lớp cơ niêm- nơi chúng c thể chuyển thành dạng xoắn hoặc dạng nang khi bị cắt ngang qua. C 4 loại tế bào xếp thành tuyến: + Tế bào nhầy cổ tuyến: chế nhầy nhƣng khác với tế bào chế nhầy bề mặt ở hình dáng trụ thấp, các hạt nhầy lớn hơn, chất nhầy dƣơng tính với PAS nhƣng kh bắt màu nhuộm HE. Các tế bào này c khả năng tăng sinh mạnh, tạo nên các tuyến giả môn vị, các chất nhày chúng chế tiết ra cũng c tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dảy khỏi tác động của dịch acid.
+ Tế bào viền: tiết acid HCl và yếu tố nội, nằm rải rác ở tuyến đáy vị, tập trung nhiều ở 1/2 trên. Các tế bào viền c kích thƣớc lớn, hình cầu hoặc hình tháp (đỉnh ở phía cực ngọn), đƣờng kính 20-35 micromet, nhân ở chính giữa, bào tƣơng nhiều hạt ƣa acid. + Tế bào chính: tiết pepsinogen và nằm chủ yếu ở phần sâu của tuyến đáy vị, số lƣợng nhiều hơn về phía gần của niêm mạc thân vị, ngƣợc lại với tế bào viền nhiều hơn về phía xa. Tế bào chính c hình khối vuông hoặc trụ thấp, bào tƣơng nhiều hạt thô ƣa bazơ (bản chất là các ribosom), nhân nằm về phía đáy.
Các hạt Zymogen tập trung ở phía cực ngọn tế bào. Pepsinogen gồm pepsinogen I (PGI) và pepsinogen II (PGII). Mặc dù tế bào chính tiết ra phần lớn PGI và PGII, PG còn đƣợc chế tiết bởi tế bào nhầy cổ tuyến ở vùng tâm vị và môn vị. + Tế bào nội tiết: Trên nhuộm HE, các tế bào nội tiết c hình cầu hoặc hình tháp, bào tƣơng sáng hoặc nhạt màu, thƣờng nằm chen giữa màng đáy và tế bào biểu mô khác.
Trong bào tƣơng c thể quan sát thấy các hạt chế tiết tập trung ở cực đáy bên dƣới nhân. Loại tế bào nội tiết phụ thuộc vào vị trí của chúng. - Tuyến hang môn vị: nằm ở vùng hang môn vị, với độ dày 200 - 1100 micromet, và các hẻm tuyến sâu hơn so với tuyến đáy vị (khoảng 1/3 - 1/2 bề dày niêm mạc). Tuyến môn vị là tuyến ống chia nhánh cong queo, ở các lát cắt ngang, giữa các ống tuyến là lớp mô đệm dày, với các sợi cơ trơn kéo dài 6 từ lớp cơ niêm lên.
Thành tuyến tạo bởi các tế bào chế nhày (+) với PAS. Vùng hang vị còn c tế bào G chế tiết Gastrin. Lớp đệm: là lƣới mô liên kết thƣa (các sợi võng và collagen, sợi chun) với các tế bào viêm, nguyên bào sợi, mạch máu, mạch bạch huyết, sợi thần kinh. Lớp đệm mảnh hẹp len giữa các tuyến đáy vị, và ngƣợc lại, khá dày, rộng ở vùng tuyến hang môn vị, tâm vị.
Các tế bào viêm xuất hiện ở mô đệm của dạ dày bình thƣờng, gồm lymphocyte, tƣơng bào, đại thực bào, dƣỡng bào, bạch cầu ƣa acid và rất hiếm bạch cầu trung tính. Các nang dạng lympho không c tâm mầm sáng c thể xuất hiện. Hệ thống mao mạch ở vùng thân - đáy vị phân bố khác vùng hang môn vị. Trong niêm mạc thân vị, các mao mạch mở rộng lên trên vuông g c tới bề mặt niêm mạc, tạo nên mạng lƣới mạch bên dƣới lớp biểu mô, vây quanh các hẻm tuyến.
Ở niêm mạc hang vị, c hai giƣờng mao mạch riêng biệt: lƣới mao mạch đáy xuất phát từ các tiểu động mạch ngắn, và lƣới mao mạch bề mặt bắt nguồn từ các tiểu động mạch dài. Sự khác biệt này đã tạo nên hình ảnh khác biệt về niêm mạc hai vùng trên nội soi khuếch đại.