MỞ ĐẦU Cấu trúc vật liệu đa lớp đặc biệt là vật liệu composite đang ngày càng được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật và đời sống. Đi kèm với sự phát triển đó chính là các yêu cầu khắt khe về kiểm tra, đánh giá các cấu trúc kỹ thuật sử dụng vật liệu đa lớp nhằm đảm bảo an toàn cũng như hiệu suất vận hành. Một trong những phương pháp tiên tiến và hiệu quả để đánh giá không phá hủy các cấu trúc kỹ thuật là phương pháp kiểm tra siêu âm. Để có thể phát triển các phương pháp đánh giá này, hiểu biết về sóng siêu âm truyền trong cấu trúc đa lớp vật liệu đóng vai trò thiết yếu.
Thực tế thì những hiểu biết này hiện bị hạn chế nhiều bởi tính dị hướng mạnh và không đồng nhất cao, đặc trưng quan trọng của cấu trúc vật liệu này. Luận văn này tập trung nghiên cứu bài toán lan truyền của sóng siêu âm dẫn trong cấu trúc đa lớp vật liệu, hướng đến việc phát triển những ứng dụng thực tế trong xác định đặc tính vật liệu và đánh giá không phá huỷ các cấu trúc kỹ thuật. Xin chân thành cảm ơn các thầy cô Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quý giá cho em trong suốt hai năm học vừa qua. Đặc biệt, luận văn tốt nghiệp này đã được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của TS.
Phan Hải Đăng và các thành viên trong nhóm nghiên cứu, cùng sự giúp đỡ của GS. Phạm Chí Vĩnh, TS. Trần Thanh Tuấn. Thông qua luận văn, em mong muốn có thể hệ thống hóa lại toàn bộ kiến thức đã học cũng như học hỏi thêm các kiến thức về việc giải quyết một bài toán khoa học, thứ rất cần thiết đối với người làm nghiên cứu.
Do khả năng và thời gian hạn chế, luận văn này không thể tránh khỏi những sai sót. Rất mong nhận được sự chỉ dạy, góp ý của các thầy cô cũng như của các anh chị, các bạn để luận văn có thể được hoàn thiện hơn. Hà Nội, ngày 01 tháng 11 năm 2021 Học viên thực hiện Lê Đức Thọ 2 DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 1. Phát hiện khuyết tật trong dầm với sóng khối (a) và sóng dẫn (b) [21].
Mô hình kiểm tra sóng dẫn. Cấu trúc hình học và hệ toạ độ của tấm đa lớp [29]. Tấm 𝑁𝑁 lớp chịu tác dụng của lực điều hoà tại 𝑥𝑥0, 𝑧𝑧0 [29]. Mô hình sóng dẫn trong cấu trúc mối nối kết dính [29].
Tín hiệu kích hoạt của nguồn phát sóng. Biểu đồ tán sắc chứa phổ biên độ của chuyển vị ngang [29]. Biểu đồ tán sắc chứa phổ biên độ của chuyển vị dọc [29]. So sánh giữa biên độ giải tích (đường xanh: Mode 2, đường đỏ: Mode 1) và kết quả số (chấm đen: Mode 2, tam giác đen: Mode 1) [29].
Cấu trúc của xương đòn (The Altanta Equine Clinic, 2013). Mô hình kiểm tra sử dụng sóng dẫn cho xương đòn [21]. Mô hình xương 2 lớp. Biểu đồ tán xạ của cấu trúc 2 lớp rắn-lỏng.
Mô hình xương 3 lớp. Biểu đồ tán xạ của cấu trúc 3 lớp lỏng-rắn-lỏng. Biên độ dọc tương đối của Mode 2 thu được từ bài toán ngược. So sánh tốc độ và độ chính xác giữa các trường hợp tính toán.
TỔNG QUAN Sóng siêu âm là âm thanh có tần số cao hơn ngưỡng nghe của con người, thường nằm trong khoảng từ 20 kHz đến vài MHz. Sóng siêu âm được sử dụng nhiều trong khoa học, kỹ thuật và đời sống. Có thể kể ra như sử dụng siêu âm để chuẩn đoán hình ảnh trong y học (ultrasonography), đánh giá không phá huỷ (nondestructive evaluation - NDE) trong kỹ thuật, phát hiện khuyết tật (defect detection), giám sát sức khoẻ cấu trúc (structural health monitoring - SHM), thăm dò các mỏ dầu, khí dưới đáy đại dương (oil, gas exploration) hay được các loài vật trong tự nhiên như cá heo và dơi sử dụng để giao tiếp. Sóng siêu âm trong môi trường đàn hồi có thể được chia thành sóng khối và sóng dẫn, xem Hình 1.
Sóng khối đâm xuyên qua bề dày vật liệu và thường suy yếu hẳn sau khoảng 2-3 lần bước sóng trong khi sóng dẫn lan truyền trên biên của vật liệu và có thể truyền đi xa nguồn phát với rất ít hoặc không mất mát năng lượng [1]. Phát hiện khuyết tật trong dầm với sóng khối (a) và sóng dẫn (b) [21]. Vì đặc tính có thể truyền đi xa nguồn phát nên sóng dẫn thường được dùng trong kỹ thuật đánh giá không phá huỷ các cấu trúc bị chôn vùi, nằm dưới đáy đại dương hay ở các vị trí khó tiếp cận đối với con người. Sóng dẫn đặc biệt hiệu quả trong việc phát hiện và đánh giá các khuyết tật trên bề mặt cấu trúc hay ẩn bên trong cấu trúc như vết ăn mòn, vết nứt hay các vết tách lớp.
Hơn nữa sóng dẫn còn được dùng cho các ứng 4 dụng khác như đánh giá tính chất vật liệu (material characterization) hay định lượng các thông số của vật thể. Mô hình kiểm tra cấu trúc tấm sử dụng sóng dẫn có thể được mô tả như ở Hình 4. Mô hình kiểm tra sóng dẫn. a) Phương pháp pitch-catch; b) Phương pháp pulse-echo Phương pháp pitch-catch sử dụng một transmitter để phát sóng và một sensor để thu sóng ở một vị cách xa.
Trong khi phương pháp pulse-echo sử dụng một sensor đảm nhận cả hai vai trò thu và phát sóng. Một số các nghiên về lý thuyết cũng như ứng dụng của sóng dẫn trong kỹ thuật kiểm tra siêu âm đã được đưa ra ở các tài liệu [6, 20, 51, 54]. Ngoài ra trong vài thập kỉ trở lại đây một ứng dụng khác của sóng siêu âm dẫn trong lĩnh vực y học được phát triển nghiên cứu rộng rãi chính là siêu âm định lượng xương (bone quantitative ultrasound - QUS). Đây là một kỹ thuật không xâm lấn được phát triển khá mạnh bởi nhiều nhà khoa học và bác sĩ y khoa.
Phương pháp cho thấy nhiều ưu điểm so với các phương pháp truyền thống (X quang, cộng hưởng từ) như là an toàn cho các em bé sơ sinh cũng như phụ nữ có thai và sử dụng được với bệnh nhân có kim loại trong người. Siêu âm định lượng xương sử dụng sóng dẫn có thể giúp ta biết được các thông số về cấu trúc của xương như mật độ xương cũng như độ dày của lớp xương đặc, từ đó giúp ta xác định được tình trạng loãng xương. Tuy 5 nhiên, việc nghiên cứu sự truyền sóng trực tiếp trên các cơ thể sống (in vivo) hay là trên các mẫu xương được lấy từ cơ thể sống (ex vivo) đều gặp nhiều khó khăn trong việc thu nhận tín hiệu cũng như phân tích tín hiệu. Điều này chính là một động lực để phát triển các nghiên cứu về truyền sóng trong các môi trường phức tạp này.
Một số các nghiên cứu tiêu biểu về lĩnh vực này có thể được tìm thấy ở các tài liệu [31, 34, 36, 41, 42, 48]. Các cấu trúc đa lớp như cấu trúc phủ, sơn, kết dính hay vật liệu composite đang ngày càng được sử dụng nhiều trong các lĩnh vực kỹ thuật do những đặc tính vượt trội của nó so với cấu trúc đơn vật liệu. Đơn cử như với dòng máy bay đời mới của hãng Boeing là 787 Dreamliner thì tỷ lệ sử dụng vật liệu composite là 80% về thể tích và 50% về khối lượng, tỷ lệ này thậm chí còn nhỉnh hơn nếu xem xét dòng máy bay A350 XWB của hãng Airbus [20]. Đi kèm với sự phát triển đó chính là các yêu cầu về kiểm tra sức khoẻ cấu trúc nhằm đảm bảo tuổi thọ cũng như độ an toàn kết cấu.
Đối với ngành công nghiệp hàng không vũ trụ các yêu cầu về an toàn cấu trúc còn đặc biệt nghiêm ngặt hơn. Đánh giá không phá huỷ cũng như giám sát sức khoẻ cấu trúc sử dụng sóng siêu âm đã được sử dụng rộng rãi và cho thấy tính hiệu quả cao. Các nghiên cứu về truyền sóng ứng dụng cho các kỹ thuật kiểm tra siêu âm trong ngành công nghiệp hàng không vũ trụ được phát triển mạnh trong thời gian gần đây. Một số nghiên cứu điển hình có thể chỉ ra như phát hiện lớp băng trên cánh máy bay bằng sóng siêu âm cắt (shear horizontal waves) [19], kiểm tra các cấu trúc vá titan trên lớp vỏ máy bay [49] hay đánh giá sự kết dính của cấu trúc lap joint ở thân máy bay bằng sóng dẫn [10, 33].
Sự lan truyền của sóng siêu âm trong các vật liệu đa lớp đã được nghiên cứu chuyên sâu vài thập kỉ trở lại đây. Trong đó các kiến thức cơ bản về vấn đề này có thể tìm được ở các cuốn sách kinh điển như [38, 51]. Một số lượng lớn các nghiên cứu cũng được công bố để làm sáng rõ hơn về bài toán truyền sóng trong cấu trúc đa lớp. Cụ thể như nghiên cứu đặc tính tán xạ của sóng siêu âm dẫn trong các cấu trúc chất rắn phân tầng [23, 55], trong cấu trúc bán không gian phủ lớp mỏng [3, 56], hay trong cấu trúc hai lớp rắn-lỏng [60].
Kỹ thuật ma trận được sử dụng để mô phỏng giải 6 tích sự truyền sóng dẫn trong cấu trúc đa lớp ở tài liệu [32]. Kỹ thuật ma trận cũng được dùng để mô phỏng sóng trong cấu trúc đa lớp với các mặt tiếp xúc không hoàn hảo (imperfect interface) ở tài liệu [35]. Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào việc tìm ra biểu đồ tán sắc cũng như các biểu thức cơ bản của sóng dẫn tự do (free guided waves) trong cấu trúc. Với bài toán sóng dẫn sinh ra bởi nguồn phát (forced guided waves), việc có được lời giải cho chuyển động sóng trở nên phức tạp hơn.
Một số kỹ thuật giải tích đã được đưa ra để có lời giải cho biên độ của chuyển động sóng như integral transform, residue theorem hay normal mode expansion [1, 5]. Tuy nhiên các phương pháp này thường sử dụng các bước biến đổi khá rườm ra cũng như không thu được biên độ sóng dưới dạng một công thức đóng. Hơn nữa với các môi trường phức tạp như nhiều lớp vật liệu việc áp dụng các kỹ thuật này là rất khó khăn. Định lý thuận nghịch (tương hỗ) từ đó được áp dụng vào việc giải các bài toán động lực học mà cụ thể là các bài toán truyền sóng một cách hiệu quả [2].
Ưu điểm của phương pháp này là sự đơn giản trong việc thiết lập công thức, cho nghiệm ở dạng biểu thức đóng cũng như áp dụng được với nhiều môi trường truyền sóng phức tạp.