PHẦN MỞ ĐẦU 1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Hầu hết các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam hiện nay, lợi nhuận từ hoạt động tín dụng bao giờ cũng chiếm tỷ trọng cao nhất so với tổng lợi nhuận của Ngân hàng, nhƣng hoạt động tín dụng cũng luôn tiềm ẩn các rủi ro, rủi ro cũ không mất đi, rủi ro mới không ngừng phát sinh, gây ảnh hƣởng không ít đến kết quả kinh doanh của Ngân hàng. Đặc biệt đối với Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam, thu nhập của tín dụng chiếm từ 60-80% nguồn thu nhập của Ngân hàng. Song cũng chính trong hoạt động này, Ngân hàng phải chấp nhận nhiều thách thức và rủi ro nhất.
Hậu quả của rủi ro tín dụng (RRTD) đối với các Ngân hàng thƣơng mại thƣờng là rất lớn, hậu quả của nó rất nặng nề, làm gia tăng chi phí, thu nhập từ thu lãi cho vay bị chậm hoặc bị mất đi, cùng với sự thất thoát của vốn vay, làm ảnh hƣởng đến khả năng thanh khoản, làm xấu đi tình hình tài chính và sẽ làm tổn hại đến uy tín, vị thế của các Ngân hàng thƣơng mại. Bên cạnh đó, tình hình kinh tế thế giới vẫn còn diễn biến phức tạp, kinh tế trong nƣớc vẫn còn nhiều khó khăn, thử thách. Vấn đề cấp bách nhất hiện nay trong quản trị - điều hành hoạt động kinh doanh của Ngân hàng là làm sao quản lý để đảm bảo an toàn tín dụng, kiểm soát một cách chặt chẽ và hiệu quả, bảo đảm hoạt động tín dụng trong rủi ro có thể chấp nhận đƣợc, giảm thiểu các thiệt hại phát sinh từ rủi ro tín dụng nhằm cải thiện tình hình tài chính và nâng cao năng lực cạnh tranh với các Ngân hàng khác. Thời gian qua, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cũng đã đạt đƣợc những kết quả nhất định về hạn chế RRTD.
Song trong môi trƣờng kinh doanh có nhiều biến động, RRTD cũng ngày càng trở nên đa dạng hơn về hình thức, phức tạp hơn về mức độ và luôn có khả năng xảy ra. Agribank sẽ khó đảm bảo đƣợc an toàn và hiệu quả cao trong hoạt động tín dụng nếu không thƣờng xuyên tăng cƣờng hạn chế RRTD. Để phát triển ổn định, hạn chế khả năng xảy ra rủi ro luôn là mối quan tâm hàng đầu của các Ngân hàng thƣơng mại nói chung và của Agribank nói riêng. Là nhân viên làm việc tại Agribank Thạnh Hóa, nhằm để tăng thêm lợi nhuận, góp phần nâng cao uy tín và tạo lợi thế của chi nhánh trong cạnh tranh, với những hiểu 2 biết, những kiến thức có đƣợc trong quá trình làm việc và nhận thức đƣợc tầm quan trọng của công tác hạn chế RRTD.
Xuất phát từ nhu cầu nghiên cứu trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An” để thực hiện văn thạc sỹ kinh tế chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2. Mục tiêu chung Luận văn đặt mục tiêu nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng nói chung và rủi ro tín dụng tại Agribank Thạnh Hóa nói riêng, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Agribank Thạnh Hóa. Mục tiêu cụ thể Phân tích thực trạng rủi ro tín dụng tại Agribank Thạnh Hóa giai đoạn 2017 - 2019.
Đề ra một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Agribank Thạnh Hóa giai đoạn 2020 – 2025. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Câu hỏi 1: Thực trạng hạn chế rủi ro tín dụng tại Agribank Thạnh Hóa giai đoạn 2017 – 2019 nhƣ thế nào? Thành tựu và tồn tại trong việc hạn chế rủi ro tín dụng tại Agribank Thạnh Hóa? Nguyên nhân của những tồn tại? Câu hỏi 2: Giải pháp nào để hạn chế rủi ro tín dụng tại Agribank Thạnh Hóa? 4. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU Đối tƣợng nghiên cứu là: Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thƣơng mại và thực tiễn tại Agribank Thạnh Hóa. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Không gian: Nghiên cứu đối tƣợng tại Agribank Thạnh Hóa.
Thời gian: Trong giai đoạn 2017-2019. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Luận văn sử dụng phƣơng pháp định tính, cụ thể bao gồm các phƣơng pháp sau: Phƣơng pháp lịch sử, phƣơng pháp so sánh, phƣơng pháp thống kê mô tả, phƣơng pháp diễn giải, phƣơng pháp phân tích,… 3 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Lý luận về rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng 1.
Khái niệm về rủi ro tín dụng Theo Markowitz (1952) “Rủi ro là một mệnh đề thể hiện sự không chắc chắn. Trong hoạt động tài chính, biến thiên của kết quả hoạt động là một đại diện cho rủi ro và do đó nhà đầu tƣ nên cân nhắc giữa kết quả kỳ vọng - điều mong đợi và biến thiên của kết quả hay rủi ro - điều không mong đợi”. Scott Mac Donald (2009) thì “Một khi NH nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi KH sai hẹn – có nghĩa là KH không thanh toán vốn gốc và lãi theo thỏa thuận. Rủi ro ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc KH không thanh toán hay thanh toán trễ hạn”.
Trong nghiên cứu của Henie Van Greuning - Sonja B rajovic Bratanovic (1999) thì “Rủi ro tín dụng đƣợc định nghĩa là nguy cơ mà ngƣời đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động NH”. Bielecki và Marek Rutkowski (2004): “Rủi ro tín dụng là khả năng KH không thực hiện đầy đủ những cam kết/nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng”. Theo Điều 3, Thông tƣ số 09/2014/TT-NHNN ngày 18/3/2014 của Thống đốc NHNN: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động NH là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh NH nƣớc ngoài do KH không thực hiện, hoặc không có khả năng thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Trong hoạt động kinh doanh của NHTM, tín dụng là hoạt động kinh doanh đem lại nguồn thu chủ yếu, chiếm đến 60% - 80% lợi nhuận của NHTM. Tuy nhiên đây cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sự luân chuyển tiền tệ và khả năng thanh khoản của NHTM (World Bank, 2009). Vì vậy, việc nghiên cứu về rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM có ý nghĩa quan trọng nhằm hạn chế tối đa tổn thất và nâng cao chất lƣợng hoạt động kinh doanh của tổ chức này Khoản 01 Điều 3 Thông tƣ số 02/2013/TT-NHNN ngày 21 tháng 01 năm 2013 của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam, rủi ro tín dụng đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng (gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có 4 khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Tổn thất có khả năng xảy ra đối với Ngân hàng khi ngƣời đi vay không trả đƣợc nợ, hoặc trả nợ không đầy đủ, không đúng hạn cho Ngân hàng; khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng do khách hàng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết; rủi ro tín dụng là loại rủi ro lớn nhất quan trọng nhất trong hoạt động Ngân hàng, là loại rủi ro chủ yếu của rủi ro Ngân hàng.
Nhƣ vậy, có thể nói rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mối quan hệ mà trong đó Ngân hàng là chủ nợ, khách hàng là con nợ lại không thực hiện hoặc không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn. Nó diễn ra trong quá trình cho vay, chiết khấu công cụ chuyển nhƣợng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán của Ngân hàng. Phân loại rủi ro tín dụng Rủi ro giao dịch Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ.
Rủi ro giao dịch là loại hình rủi ro tín dụng phát sinh trong quá trình giao dịch tín dụng giữa Ngân hàng và khách hàng. Rủi ro giao dịch là loại rủi ro mang nặng tính chủ quan của bên cho vay trong quá trình tác nghiệp, bao gồm: Rủi ro lựa chọn là quá trình đánh giá, phân tích, lựa chọn khi tác nghiệp chƣa tốt: Phân tích, đánh giá khách hàng thiếu bao quát, còn nhiều sơ hở. Phân tích, lựa chọn phƣơng án vay vốn của khách hàng còn lỏng lẻo, qua loa. Lựa chọn phƣơng án thu nợ thiếu cân nhắc có nhiều sơ hở dẫn đến rủi ro.
Rủi ro đảm bảo là rủi ro các vấn đề liên quan đến đảm bảo tài sản: Điều khoản đảm bảo tín dụng thiếu chặt chẽ, rõ ràng; Danh mục tài sản đảm bảo thiếu tính cụ thể; Hình thức đảm bảo và phƣơng pháp xử lý tài sản còn bất cập; Tỷ lệ đảm bảo tài sản thiếu dứt khoát, rõ ràng. Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các 5 khoản vay có vấn đề. Rủi ro danh mục Rủi ro danh mục là loại hình rủi ro tín dụng phát sinh trong quản lý danh mục cho vay của NH. Rủi ro danh mục là loại rủi ro vừa mang tính chủ quan, lại vừa tác động của các nhân tố khách quan.
Rủi ro danh mục bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. Rủi ro nội tại: Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố rủi ro bên trong của mỗi khách hàng vay vốn, ngành nghề kinh doanh, lĩnh vực hoạt động.
Rủi ro tập trung: Rủi ro tập trung là rủi ro phát sinh trong trƣờng hợp Ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.