Chương 1: Giới thiệu tổng quan về bài toán nhận dạng công thức toán học, đưa ra mục tiêu, những thách thức trong quá trình thực hiện, cuối cùng học viên trình bày những đóng góp chính của luận văn. • Chương 2: Giới thiệu các nghiên cứu liên quan và các vấn đề còn tồn tại. 5 • Chương 3: Giới thiệu và mô tả ý tưởng, các thành phần của phương pháp đề xuất. • Chương 4: Phân tích bộ dữ liệu thực nghiệm, lựa chọn các tham số đánh giá và trình bày kết quả thực nghiệm.
• Chương 5: Tổng kết, nhận xét và hướng phát triển tiếp theo của luận văn. NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Chương này nhằm tổng kết lại những nghiên cứu liên quan về nhận dạng công thức toán học nói chung và nhận dạng công thức toán học in từ hình ảnh tài liệu khoa học nói riêng. Công thức toán học là một thành phần quan trọng trong các tài liệu khoa học. Trong tài liệu, công thức toán học được chia thành hai loại: công thức độc lập (Displayed/Isolated expression) và công thức nội tuyến (Inline/Embedded expression).
Công thức độc lập xuất hiện trên một dòng văn bản riêng biệt trong khi đó, công thức nội tuyến xuất hiện trên cùng một dòng với kí tự văn bản thông thường.1 minh họa bước phát hiện công thức độc lập và công thức nội tuyến trong một trang tài liệu ảnh. Vùng hình chữ nhật (bounding box) màu xanh bao quanh công thức nội tuyến được phát hiện và vùng hình chữ nhật công thức độc lập (màu đỏ). Một ví dụ về biểu thức toán học được thể hiện trong hình 2. Trong một biểu thức toán học, các ký tự có thể được sắp xếp như một cấu trúc hai chiều phức tạp, có thể có kích thước các ký tự khác nhau.
Tất cả các ký tự, khi được nhóm đúng, tạo thành một cấu trúc phân cấp nội bộ. Tuy nhiên, việc nhóm các biểu tượng thích hợp trong một biểu thức toán học không đơn giản do các nguyên nhân sau: Thứ nhất, có hai loại biểu tượng. Một loại bao gồm tất cả các ký tự cơ bản và loại còn lại bao gồm các ký tự ràng buộc và toán tử. Mỗi loại biểu tượng có tiêu chí nhóm riêng.
Thứ hai, cũng có hai loại toán tử, đó là toán tử tường minh và ẩn. Toán tử tường minh là ký tự toán tử trong khi toán tử ẩn là toán tử không gian. Thứ ba, một số biểu tượng có thể đại diện cho các ý nghĩa khác nhau trong các ngữ cảnh khác nhau. Các đặc điểm này làm cho quá trình nhận dạng trở nên rất khó khăn ngay cả khi tất cả các ký tự riêng lẻ có thể được nhận dạng chính xác.
Việc nhận dạng và hiểu đúng công thức toán học từ các tài liệu khoa học cho phép khai thác thông tin từ các tài liệu khoa học như tra cứu, so sánh các tài 7 Hình 2.1: Ví dụ về công thức độc lập (màu đỏ) và công thức nội tuyến (màu xanh) trong tài liệu ảnh Hình 2.2: Ví dụ về độ phức tạp biểu thức toán học liệu khoa học. Nhận dạng công thức toán học từ tài liệu dạng ảnh có thể được coi là một bài toán con của nhận dạng ảnh. Tuy nhiên, nhận dạng công thức toán học có nhiều thách thức riêng như sự đa dạng và sự tồn tại của các ký tự đặc biệt, cách biểu diễn đặc thù trong miền không gian. Do đó, mặc đù đã có nhiều nghiên cứu đã được đề xuất, nhưng nhận dạng công thức toán từ ảnh vẫn là một bài toán nhiều thách thức, thu hút được nhiều nhà nghiên cứu trong những năm qua.
Việc nhận dạng ký tự và phân tích cấu trúc của các đối tượng hai chiều đã được nghiên cứu rộng rãi trong nhiều thập kỷ. Nhiều kỹ thuật nhận dạng ký tự hoạt động theo giả định rằng các ký tự đã được phân cách. Tuy nhiên, tình huống tương tự không xảy ra trong giai đoạn phân tích cấu trúc. Các mô hình hai chiều trong các lĩnh vực khác nhau thường có mối quan hệ không 8 gian rất khác nhau.
Mặc dù về nguyên tắc, một số kỹ thuật được sử dụng để nhận dạng các hình ảnh hai chiều khác cũng có thể áp dụng cho nhận dạng biểu thức toán học, các kỹ thuật như vậy thường yêu cầu sửa đổi đáng kể trước khi chúng có thể được sử dụng. Hơn nữa, một số tình huống rất cụ thể để nhận dạng biểu thức toán học cần phải có các phương pháp được thiết kế đặc biệt. Việc nhận dạng các biểu thức toán học (MEs) đã được nghiên cứu kỹ lưỡng bằng nhiều phương pháp khác nhau. Theo phương pháp truyền thống, việc nhận dạng các biểu thức toán học thực hiện gồm 3 bước: phát hiện các ký hiệu toán học, nhận dạng các ký hiệu và phân tích cấu trúc của chúng [13].
So với văn bản tự sự, bố cục cấu trúc của tài liệu khoa học phức tạp hơn nhiều. Các ME có thể bao gồm cấu trúc 2-D, dạng lưới hoặc lồng vào nhau gây nhiều khó khăn cho việc nhận dạng. Trong nhiều thập kỷ, việc nhận dạng các ME đã cung cấp một chủ đề hấp dẫn cho cộng đồng nghiên cứu về nhận dạng. Cho đến nay, một số cuộc thi quốc tế [15] đã được tổ chức để thúc đẩy các phương pháp nhận dạng các ME viết tay.
So với các ME viết tay, việc nhận dạng các ME bằng bản in ít được chú ý hơn. Trong những năm gần đây, với sự phổ biến của máy ảnh di động, các ME in ngày càng trở nên hữu ích hơn đối với người dùng cuối. Việc nhận dạng các ME in có nhiều ứng dụng: phát triển các hệ thống truy xuất toán học, viết và chỉnh sửa các công thức toán học phức tạp trong hệ thống sắp chữ Latex. Vì vậy, việc nhận dạng các công thức toán học in là một nhu cầu cần thiết.1 Các phương pháp truyền thống Các biểu thức toán học là một phần thiết yếu trong hầu hết các ngành khoa học và kỹ thuật.
Đặc điểm các biểu thức toán học khiến nó khác biệt hơn so với văn bản thuần túy là vì các biểu thức toán học thường bao gồm các ký tự đặc biệt và các chữ cái Hy Lạp bên cạnh các chữ cái và chữ số tiếng Anh. Với số lượng ký tự lớn như vậy, loại bàn phím thường được sử dụng phải được sửa đổi đặc biệt để phù hợp với tất cả các phím cần thiết. Một phương pháp khác là sử dụng một số phím phụ trong bàn phím (ví dụ: các phím chức năng) cùng với một bộ các chuỗi phím duy nhất để biểu thị các ký tự đặc biệt khác. Một phương pháp khác là chỉ đơn giản là tạo một tập hợp từ khóa để thể hiện các ký tự đặc biệt như trong Latex.
9 Sau hơn ba thập kỷ nghiên cứu, nhiều kỹ thuật nhận dạng ký tự hiện tại có thể đạt được kết quả tương đối khả quan. Tuy nhiên, phần lớn trong đó chỉ có thể làm việc với các ký tự riêng biệt. Trong khi đó một biểu thức toán học thường có nhiều ký tự. Do đó, để có thể áp dụng các kỹ thuật nhận dạng ký tự này, các ký tự cần phải được phân tách một cách chính xác từ biểu thức toán học.
Sơ đồ khối 3 bước thực hiện của phương pháp nhận dạng công thức toán học truyền thống được mô tả trong hình 2.3: Sơ đồ khối các bước của phương pháp nhận dạng truyền thống Đầu vào của mô hình nhận dạng biểu thức toán học có thể là công thức toán học viết tay hoặc công thức toán học in định dạng ảnh. Mô hình sẽ thực hiện phân tách kí tự bằng cách chia các ảnh biểu thức thành nhiều vùng, mỗi vùng chứa các ký tự riêng biệt, rời rạc. Sau bước phân đoạn, một danh sách các kí tự với một số giá trị thuộc tính đã biết. Bằng cách sử dụng các phương pháp: đối sánh mẫu, cấu trúc,.
để nhận dạng kí tự. Cuối cùng mô hình sẽ xây dựng cấu trúc phân cấp cho các đối tượng, phân tích cấu trúc. Cấu trúc dữ liệu có thể biểu diễn dưới dạng cây phân tích cú pháp hoặc cây quan hệ. Kết quả thu được là công thức toán học dạng ảnh chuyển đổi thành chuỗi Latex.
Các phương pháp truyền thống mô tả trong [1] thực hiện nhận dạng công thức toán học qua ba bước chính được minh họa trong hình 2.4: phát hiện ký tự toán 10 học, nhận dạng ký tự toán học và phân tích cấu trúc các ký tự đã nhận dạng để đưa ra kết quả nhận dạng cuối cùng. Với các phương pháp nhận dạng truyền thống, sai sót trong các bước thực hiện sẽ dẫn tới sai sót trong nhận dạng toàn bộ công thức.4: Mô hình nhận dạng công thức truyền thống gồm nhiều bước [1] 2.1 Phân tách ký tự Một cách dễ hiểu về phân tách ký tự là chia một ảnh biểu thức toán học thành nhiều vùng, mỗi vùng tương ứng với 1 ký tự. Tuy nhiên, một số ký tự và ký hiệu, chẳng hạn như “i”, “ j ” và “=” bao gồm nhiều thành phần. Do đó, ta cần kết hợp các thành phần tương ứng lại với nhau trước khi ta có thể nhận ra các ký tự hoặc ký tự riêng lẻ một cách chính xác.
Trong các trường hợp phức tạp hơn, một số ký tự, như “√ ”, thường chứa các ký tự khác bên trong vùng của chúng. Vì vậy, cần thận trọng khi phân tách các biểu tượng như vậy. Faure và Wang [2] đã trình bày một hệ thống mô-đun để phân tách các biểu thức toán học viết tay. Hệ thống này gồm hai mô-đun phân tách theo hướng dữ liệu và xây dựng một cây quan hệ của biểu thức đã cho.
Mô-đun 1: Xây dựng cây quan hệ trong quá trình kích hoạt phân đoạn một tập hợp các toán tử. Mô-đun 2: Hiệu chỉnh đầu ra của mô-đun 1. Các lỗi xảy ra trong cây chủ yếu liên quan đến các mẫu cụ thể. Chứa thông tin về một tập hợp con của từ vựng, các quy tắc cú pháp, thứ 11 tự viết và hình dạng,.
Ví dụ minh họa kết quả sau khi 2 mô-đun thực hiện phân tách kí tự được mô tả trong hình 2. Nói chung, các phép chiếu trên trục X và Y có thể được sử dụng để quyết định cách phân tách dữ liệu. Tuy nhiên, đối với các ký tự như “ √ ” và dấu phân số, cách tiếp cận này thường bị thất bại. Do đó, quá trình loại bỏ mặt nạ được áp dụng để phân tách các biểu tượng này và các ký tự đã được ghép lại trước khi quá trình chiếu được thực hiện cho các ký tự này.
Sau đó, mô-đun phân đoạn theo định hướng cố gắng sửa cây quan hệ được xây dựng bởi mô-đun trước đó.