chương 1 tập trung vào các đặc tính cấu trúc chắn dải điện từ EBG. Chương này cũng đề cập đến các phương pháp phân tích cấu trúc EBG: phương pháp phần tử tập trung, phương pháp đường truyền tuần hoàn và phương pháp số toàn sóng. Các ứng dụng của cấu trúc EBG cũng được tổng hợp và phân tích. Ngoài ra, các cơ sở để phân tích cấu trúc EBG bao gồm vấn đề về sóng mặt lan truyền trên bề mặt các cấu trúc được trình bày và phân tích chi tiết.
Phương pháp sai phân hữu hạn miền thời gian cũng được giới thiệu với điều kiện biên tuần hoàn sử dụng trong việc phân tích các cấu trúc tuần hoàn có chu kỳ. xix Chương 2 đề xuất giải pháp thiết kế cấu trúc EBG đa băng tần sử dụng phần tử điện dung ký sinh. Hai cấu trúc EBG hai băng tần và ba băng tần được đề xuất, phân tích và mô hình hóa bằng các sơ đồ mạch điện LC tương đương. Đặc tính dải chắn được khảo sát bằng phương pháp mô phỏng tham số tán xạ và đồ thị tán xạ.
Các mô hình đề xuất cũng được kiểm nghiệm bằng các kết quả đo đạc mô hình thực nghiệm. Bên cạnh đó, ứng dụng cấu trúc EBG ba băng tần để thiết kế bộ lọc thông dải băng rộng. Các kết quả phân tích, mô phỏng và đo đạc mô hình thực nghiệm của bộ lọc đề xuất cũng được thực hiện. Tiếp theo, giải pháp thiết kế cấu trúc EBG linh hoạt sử dụng cấu trúc hình học Fractal được đề xuất và thực hiện trong chương 3.
Hai cấu trúc EBG phẳng hình lục giác đã được tạo ra dựa trên các tam giác Sierpinski Gasket. Đây là một thiết kế rất linh hoạt, với các trường hợp ghép khác nhau của các tam giác Sierpinski, các cấu trúc EBG sẽ có hoặc là băng thông rộng hoặc là băng tần kép. Cấu trúc EBG đề xuất cũng được so sánh với cấu trúc EBG hình nấm để kiểm chứng băng thông của dải chắn. Các cấu trúc EBG cũng được tích hợp vào anten vi dải để cải thiện đặc tính bức xạ của anten vi dải.
Cuối cùng, chương 4 đề xuất và thực hiện giải pháp giảm nhỏ kích thước cấu trúc EBG. Giải pháp này được thực hiện bằng cách tạo ra đồng thời các phần tử điện dung C và điện cảm tương đương L, từ đó tăng tổng giá trị điện dung và điện cảm của cấu trúc EBG. Cấu trúc EBG đề xuất được so sánh với các cấu trúc EBG đã được thiết kế trước đây để kiểm chứng khả năng giảm kích thước so với cấu trúc EBG hình nấm ban đầu. Cấu trúc EBG đề xuất đã được ứng dụng để giảm ảnh hưởng tương hỗ cho anten mảng vi dải.
1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CƠ SỞ PHÂN TÍCH CẤU TRÚC CHẮN DẢI ĐIỆN TỪ (EBG) 1. Giới thiệu chƣơng Chương này trình bày tổng quan về bề mặt trở kháng lớn và là cơ sở để nghiên cứu và đưa ra các đề xuất sau này của luận án. Các tính chất của bề mặt trở kháng lớn được phân tích qua mô hình tích hợp cấu trúc hình nấm vào hệ thống anten cấu hình đơn giản [2]. Khái niệm về cấu trúc chắn dải điện từ (EBG) và siêu vật liệu được đưa ra phân tích.
Đây là những loại vật liệu nhân tạo có những đặc tính khác biệt so với vật liệu thông thường có trong tự nhiên [37]. Bên cạnh đó, chương này cũng đề cập đến các phương pháp phân tích cấu trúc EBG và các ứng dụng cấu trúc EBG trong các hệ thống anten nhằm nâng cao đặc tính bức xạ, giảm ảnh hưởng tương hỗ trong hệ thống anten mảng. Phần tiếp theo, cơ sở lý thuyết sóng bề mặt dùng cho phân tích cấu trúc EBG được giới thiệu. Trên cơ sở đó xác định được trở kháng bề mặt của cấu trúc dựa vào sóng lan truyền bề mặt.
Đồng thời, phương pháp sai phân hữu hạn miền thời gian (FDTD) cũng được trình bày. Đây là phương pháp xác định đặc tính chắn dải của cấu trúc EBG dựa trên điều kiện biên tuần hoàn. Bề mặt trở kháng lớn 1. Giới thiệu chung về bề mặt trở kháng lớn Trong một số trường hợp, sự có mặt của vật dẫn điện đã gây ảnh hưởng bất lợi đến đặc tính của các thiết bị điện từ, thậm chí còn liên quan đến hệ thống thông tin vô tuyến.
Các bề mặt vật dẫn thường là các mặt phản xạ nhưng chúng làm đảo pha sóng phản xạ. Ngoài ra, các bề mặt trên còn hỗ trợ sự lan truyền sóng bề mặt dẫn đến giảm hiệu suất bức xạ của anten. Điều này có thể khắc phục bằng cách đưa vào các ràng buộc về cấu trúc hình học trong thiết kế nhưng sẽ làm giảm hiệu suất tối ưu ban đầu. Bằng cách đưa vào bề mặt vật dẫn một kết cấu đặc biệt thì sẽ làm thay đổi các thuộc tính của bề mặt trên.
Nếu làm từ kim loại rắn, cấu trúc sẽ dẫn dòng một chiều, nhưng trên một dải tần riêng biệt, cấu trúc sẽ không dẫn dòng xoay chiều. Đặc điểm của bề mặt mới này là có trở kháng bề mặt lớn, không đảo pha sóng phản xạ và dòng ảnh sẽ phản xạ đồng pha so với trường hợp phản xạ ngược pha của các vật dẫn thông thường. Hơn nữa, bề mặt 2 trở kháng lớn sẽ không hỗ trợ sóng lan truyền trên bề mặt, thay vào đó, các dòng điện trên bề mặt sẽ bức xạ một cách hiệu quả vào không gian tự do. Vật dẫn điện Nếu một bề mặt vật dẫn là mặt phản xạ tốt thì lại có tính chất đảo pha sóng phản xạ.
Một tấm kim loại phẳng thường dùng trong các anten như là mặt phản xạ hay mặt phẳng đế. Mặt phẳng này sẽ đổi hướng sóng phản xạ để tạo ra thành phần đồng pha với hướng bức xạ chính, từ đó cải thiện được tăng ích của anten tới 3 dB. Tuy nhiên, nếu anten đặt quá gần bề mặt vật dẫn, pha của sóng tới sẽ đảo khi phản xạ, tạo ra giao thoa tiêu cực với các sóng bức xạ theo hướng khác. Điều này tương đương với việc dòng ảnh trong vật dẫn đã triệt tiêu dòng điện trong anten, dẫn đến hiệu suất bức xạ rất kém.1 mô tả một anten đặt rất gần vật dẫn [1].
Hiệu quả của anten gần như bị triệt tiêu bởi bề mặt kim loại, do vậy hiệu suất bức xạ là không đáng kể. Vật dẫn Anten điện Sóng 1 Dịch pha Giao thoa 1800 ngược pha Sóng 2 < /4 Hình 1. Anten đặt đối diện với mặt phẳng đế với khoảng cách < /4 Vấn đề trên sẽ được giải quyết nếu khoảng cách giữa phần tử bức xạ và mặt phẳng đế là ¼ bước sóng như hình 1. Sự dịch pha từ anten đến bề mặt và quay lại anten đúng bằng một chu kỳ.
Vì thế anten sẽ bức xạ hiệu quả hơn nhưng yêu cầu độ dày tối thiểu của toàn bộ cấu trúc là /4. Vật dẫn Anten điện 900 Sóng 1 Dịch pha Giao thoa 1800 đồng pha 900 Sóng 2 /4 Hình 1. Anten với khoảng cách /4 so với mặt phẳng đế 3 Một tính chất khác của kim loại là cho phép lan truyền sóng bề mặt [38]. Các sóng bề mặt là các sóng điện từ lan truyền theo mặt phân cách giữa kim loại và không gian tự do.
Chúng được gọi là bề mặt Plasmon ở dải tần quang học [39], còn ở dải tần siêu cao chúng không khác gì dòng xoay chiều trong bất kỳ vật dẫn điện nào. Nếu vật dẫn trơn và phẳng, sóng bề mặt sẽ không gắn với sóng phẳng bên ngoài. Tuy nhiên chúng sẽ bức xạ nếu bị tán xạ bởi uốn cong, điểm gián đoạn hay bề mặt texture. Phạm vi sóng bề mặt không tồn tại với khái niệm “vật dẫn điện hoàn hảo (PEC)”, vì vậy trong giới hạn của độ dẫn điện vô hạn, trường liên kết với sóng bề mặt sẽ mở rộng với một khoảng cách nhất định trong không gian.3 mô tả một ví dụ về sóng bề mặt TM lan truyền ngang qua một tấm kim loại [1].
Từ trường nằm ngang theo hướng lan truyền, kết hợp với dòng điện chạy dọc trong vật dẫn. Điện trường bị ràng buộc đưa đến mặt trên của vật dẫn và nhảy khỏi bề mặt vật dẫn theo đường vòng. E H ++ -- -- ++ ++ - -- Kim loại Hình 1. Sóng bề mặt TM lan truyền ngang qua một tấm kim loại Khi anten đặt gần một mặt phẳng đế kim loại (hay một mặt phản xạ kim loại) thì nó sẽ bức xạ sóng phẳng vào trong không gian nhưng anten cũng tạo ra các dòng điện chạy dọc mặt kim loại.
Trên một mặt phẳng đế rộng vô hạn thì ảnh hưởng của dòng bề mặt này đến hiệu suất bức xạ của anten là không đáng kể. Tuy nhiên trong thực tế, mặt phẳng đế luôn có kích thước hữu hạn nên dòng bề mặt sẽ lan truyền về các cạnh hay các góc gây ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất bức xạ anten. Nếu nhiều anten có chung mặt phẳng đế thì dòng bề mặt sẽ gây nên ảnh hưởng tương hỗ (do ghép nối) không mong muốn giữa các anten. Bề mặt trở kháng lớn Bằng việc tích hợp các cấu trúc đặc biệt trên một vật dẫn thì nó có thể thay đổi các thuộc tính của sóng lan truyền trên bề mặt.
Khi cấu trúc có chu kỳ nhỏ hơn rất nhiều so với bước sóng thì cấu trúc này có thể mô tả bằng mô hình trung gian hiệu dụng [1], và phẩm chất của cấu trúc này được tổng quát hóa chỉ bằng một tham số, đó là trở kháng bề mặt. Điều kiện biên này xác định tỷ số giữa điện trường tiếp tuyến và từ trường tiếp tuyến tại bề mặt. Nó tương tự như trở kháng được xác định theo định luật Ohm: tỷ số giữa điện áp và 4 dòng điện chạy dọc vật dẫn. Một vật dẫn trơn nhẵn sẽ có trở kháng bề mặt nhỏ, trong khi với một thiết kế đặc biệt về hình dạng, bề mặt texture có thể có trở kháng bề mặt lớn.
Mặt cắt ngang của một bề mặt trở kháng lớn Một bề mặt trở kháng lớn như hình 1.4, bao gồm một dãy các phiến kim loại nhô lên nằm trên một tấm kim loại phẳng. Các tấm kim loại ở trên được nối với vật dẫn ở dưới bằng các cột kim loại thẳng đứng. Chúng có thể được xem như dạng hình nấm nhô lên từ bề mặt. Nếu kích thước của phần nhô lên là nhỏ so với bước sóng, các thuộc tính điện từ có thể được mô tả bằng các phần tử tập trung: cuộn cảm và tụ điện.