Chương 1. KHÁI QUÁT VE BAO HỘ QUYEN TAC GIÁ DOI VỚI ĐỊNH DANG CHUONG TRÌNH TRUYEN HÌNH 1. Khái quát chung về bảo hộ quyén tác giả 1. Nguồn gốc hình thành cơ chế bảo hộ quyền tác giả Con người, ngay từ “buôi bình minh” của quá trình phát triển xã hội, đã cho ra đời những sáng tạo tinh thần trên nhiều lĩnh vực, đáp ứng nhu cầu của chính bản thân họ cũng như làm động lực phát triển đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội.
Những sản phẩm sáng tạo này phải đến khoảng thế ky XV mới được pháp luật ghi nhận quyền sở hữu, tuy nhiên chỉ đối với những vật chứa đựng tác phẩm trí tuệ chứ không phải đối với bản thân tác phẩm trí tuệ đó, ví dụ như pháp luật cam hành vi trộm cắp một cuốn sách (vật chứa đựng) chứ không cắm việc sao chép nội dung của cuốn sách (tác phẩm trí tuệ). Vì thế, việc tác phẩm của một tác giả, nghệ sĩ nào đó bị sao chép, rồi bị thay đổi là chuyện thường xảy ra, thậm chí có những tác phẩm được đông thời cho là của nhiều tác giả khác nhau.Š Tuy nhiên, vào thời ky này, do phát minh in chưa hình thành, việc sao chép một quyên sách thường được thực hiện bằng cách chép tay thủ công nên khả năng sao chép tác phẩm của người khác không nhiều. Mặt khác, các trường hợp sao chép sai lệch dé xảy ra, tạo thành những phiên bản khác nhau của tác phẩm và từ đó trở thành tác phâm của nhiều tác giả. Đến năm 1440, phát minh in ra đời làm cho các tac phâm dé dang được sao chép thành nhiều bản.
Dù làm tăng hiệu suất xuất ban, song công nghệ in cũng khiến cho các tác giả, nhà xuất ban chân chính phải đối mặt với hoạt động in lại tác phẩm mà không trả tiền nhuận bút. Chất lượng in lại có lỗi hay nội dung bị sửa đôi gây ảnh hưởng đến uy tín của tác giả, cũng như gây ra tốn thất kinh tế cho những nhà xuất bản có trả tiền nhuận bút. Từ đó, quy định về đặc quyền in tác phẩm được đưa ra. Tuy nhiên, quy định này mới chỉ có ý nghĩa đối với những nhà xuất bản đã trả tiền nhuận bút, còn quyền sở hữu đối với tác phẩm trí tuệ của tác giả vẫn chưa được đảm bảo.
Bước vào thời kỳ phục hưng, đến giữa thế kỷ XVI, các quyền con người trở nên quan trong hơn. Dé khuyến khích sự sáng tạo cá nhân, các đặc quyền tác giả cũng xuất hiện, bắt đầu hướng đến bảo vệ quyền nhân thân của tác giả (nhưng chưa đảm bảo quyên tài sản cho họ). 5 Trần Văn Nam (2014), Quyển tác giả ở Việt Nam — Pháp luật và thực thi, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.
I1 Năm 1710, Nghị viện Anh ban hành Đạo luật Anne (the Statute of Anne). Đây có thé xem là văn bản pháp luật đầu tiên trên thế giới về quyền tác giả.5 Tiếp sau đó, các đạo luật tương tự cũng đã được đưa ra tại Pháp, Đức, Hoa Ky va nhiều nước khác. Quyền tác giả được ghi nhận một cách rộng rãi trên toàn thế giới, góp phần thúc đây sự sáng tạo của trí tuệ con người cũng như tạo ra được cơ chế bảo hộ tác quyền tại mỗi quốc gia. Việc xác lập cơ chế bảo hộ quyền tác giả có ý nghĩa quan trọng: là cơ sở phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội của nhân loại; khuyến khích nhân tài công hiến trí tuệ của mình dé cho ra đời các sản phẩm đáp ứng không chỉ nhu cầu vật chất mà còn cả nhu cầu tinh thần của con người.
Với sự phát triển ngày càng cao của Internet, công nghệ lưu trữ và truyén thông, các loại hình tác phâm được bảo hộ quyên tác giả cũng ngày một tăng và sẽ còn tiếp tục được gia tăng trong tương lai. Bên cạnh đó, với xu thế hội nhập quốc tế, không chỉ dừng lại ở cơ chế bảo hộ quốc nội, các quốc gia còn nỗ lực xây dựng hệ thống điều ước quốc tế nhăm xác lập một cơ chế bảo hộ chung giữa các quốc gia với nhau. Khái niệm quyền tác giả và bảo hộ quyền tác giả 1. Định nghĩa quyén tác giả và bảo hộ quyễn tác giả Sự tồn tại của hai hệ thống pháp luật common law va civil law đã tạo ra hai xu hướng tiếp cận khái niệm quyền tác giả.
Các nước theo hệ thống common law sử dụng khái niệm “copyright” (bản quyền) vì muốn nhắn mạnh đến quyền thương mại của tác giả, của chủ sở hữu tác pham. Từ “copyright” có nghĩa là quyền sao chép vì được ghép từ “copy” (sao chép) và “right” (quyền). Hiéu một cách đơn giản, quyên tác giả cho phép tác giả và chủ sở hữu quyền tac giả được độc quyên khai thác tác phẩm, chống lại việc sao chép bat hợp pháp. Các nước theo hệ thống civil law đưa ra thuật ngữ “droit d’auteur” (quyên tác giả).
Ngay trong thuật ngữ này, tác giả được đề cập một cách trực tiếp thể hiện quyền của tác giả trước hết là quyền tỉnh thần đối với những tài sản trí tuệ do mình sáng tạo 5 Đạo luật ghi nhận quyền tác giả được bảo hộ với thời hạn là 14 năm và có thé được gia hạn 14 năm tiếp theo. (theo Nguyễn Thanh Hùng (2017), Luật sở hữu trí tuệ, Trường Dai học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, TP. Đồng thời, Đạo luật cũng lần đầu ghi nhận độc quyền sao chép của tác giả và họ có thể nhượng lại quyền này cho nhà in trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận (theo Tran Văn Nam (2014), Quyển tác giả ở Việt Nam — Pháp luật và thực thi, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr.
12 ra, sau đó mới là quyền kinh tế (thương mai hóa tài sản trí tuệ). Thuật ngữ “quyên tác giả” đã thể hiện và ghi nhận trực tiếp các quyền tinh than và quyền kinh tế của tác giả. Nhìn nhận dưới góc độ pháp lý, quyên tác giả có thé được xem xét ở hai phương diện là: phương diện khách quan và phương diện chủ quan. Về phương diện khách quan, quyền tác giả là tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm xác nhận và bảo vệ quyền của tác giả, của chủ sở hữu quyền tác giả; xác định các nghĩa vụ của các chủ thê trong việc sáng tạo và sử dụng các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; và quy định trình tự thực hiện và bảo vệ quyền đó khi có hành vi xâm phạm.
Về phương diện chủ quan, quyền tác giả là quyền dân sự cụ thé (quyên tài sản và quyền nhân thân) của chủ thé với tư cách là tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phâm văn học, nghệ thuật, công trình khoa học và quyền khởi kiện hay không khởi kiện khi quyền của mình bị xâm phạm. Quyền tác giả còn được hiểu là quan hệ pháp luật dân sự. Đó là quan hệ xã hội giữa tác giả, giữa chủ sở hữu quyền tác giả với các chủ thể khác trong xã hội thông qua tác phâm, dưới sự tác động của quy phạm pháp luật, quan hệ giữa các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả với các chủ thể khác được xác định. Tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học được sáng tạo ra, được thể hiện dưới hình thức khách quan và được các quy phạm pháp luật điều chỉnh, theo đó quan hệ về quyền tác giả được xác lập.
Quan hệ pháp luật về quyền tác giả là quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối với các chủ thể của quyền được xác định và các chủ thể khác còn lại trong xã hội có nghĩa vụ tôn trọng quyền đó của các chủ thé mang quyền.Š Quan hệ pháp luật này gồm ba yếu tố. Thư nhất, chủ thé của quyền tác giả là tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả. Về mặt pháp lý, tác giả được hiểu là người sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật của mình dé trực tiếp sáng tạo tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. Tác giả là những người băng lao động trí óc của mình, trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học định hình dưới dạng vật chất nhất định.
Với khái niệm trên, chỉ những người trực tiếp làm ra tác phẩm thông qua hoạt động của tư duy sáng tạo mới là tác giả. Những người cung cấp tư liệu, hỗ trợ, góp ý kiến không thé là tác giả. Mặt 7 Đoàn Đức Lương, Khoa Luật, Đại học Huế (2012), Giáo trình Pháp luật sở hữu trí tuệ, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr.
8 Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 13 khác, kết quả của lao động do tư duy sáng tạo mang lại định hình dưới thé vật chất nhất định, điều đó có nghĩa là không bảo hộ đối với những ý tưởng sáng tạo. Nhà nước chỉ bảo hộ những ý tưởng về văn học, nghệ thuật và khoa học đã được hình thành bằng văn bản và định hình ở bất kỳ dạng vật chất nào.
Chủ sở hữu quyên tác giả là cá nhân, tổ chức nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản liên quan đến tác phẩm được thừa nhận dù họ là người trực tiếp hoặc không trực tiếp tạo ra tác phâm do.° Chủ sở hữu quyên tác giả có thể là chính tác giả, đồng tác giả sáng tạo ra tác phẩm; tổ chức giao nhiệm vụ cho tác giả tạo ra tác phẩm; cá nhân, tổ chức giao kết hợp đồng; người được thừa kế quyền tác giả; v. Thứ hai, khách thể là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, công trình khoa học do tác giả sáng tạo ra băng lao động trí tuệ. Tác phẩm - với tư cách là đối tượng của quyên tác giả trước tiên phải là sự sáng tạo hàm chứa lượng chất xám nhất định và mang dấu ấn cá nhân của con người cụ thể. Tác phẩm được bảo hộ phải là tác phẩm gốc, có xuất xứ trực tiếp từ quá trình lao động của tác giả mà không phải sao chép từ một tác phẩm đã có.
Đồng thời, tác phẩm được thé hiện thông qua một dạng vật chat nhất định mà nhờ đó công chúng biết đến sự tôn tại của tác phẩm. Việc công chúng nhận biết sự tồn tại của tác phẩm được hiểu là trực tiếp nhận biết (thông qua các giác quan) và gián tiếp nhận biết (thông qua thiết bị trung gian).!0 Thứ ba, nội dung quyền tác giả là tổng hợp các quyền nhân thân và quyên tài sản của các chủ thé trong quan hệ pháp luật về quyên tác giả. Các quyền này phát sinh từ tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học được pháp luật ghi nhận và bảo hộ.