CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE TONG CONG TY NHÀ NƯỚC VA KHÁI QUAT VE TONG CONG TY QUAN LÝ BAY VIỆT NAM 1.1 Khái niệm, đặc điểm tổng công ty và tong công ty nha nước 1. Khái niệm tổng công ty Tổng công ty là một sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thi trường, ở Việt Nam, khái niệm tổng công ty ra đời vào khoảng những năm cuối thế ky XX. Cùng với thời gian, mô hình tổng công ty có nhiều sự thay đổi về cơ cấu, tổ chức, nguồn von đầu tư, chủ thé đầu tư, lĩnh vực hoạt động. như sau: Dướigóc độ ngôn ngữ hoc: Theo Từ điển tiếng Việt “Tổng công ty là một tổ chức kinh doanh gồm nhiều công ty trong cùng một ngành kinh tế”'.
Như vậy, tổng công ty có thê được hiểu là một đơn vị kinh tế lớn được thành lập và hoạt động trên cơ sở liên kết các đơn vị có cùng một nhóm ngành nghé như kinh tế, tài chính, công nghệ thông tin. nhằm tăng cường tích tụ tập trung, phân công chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất dé nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị thành viên và của tổng công ty, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Theo Từ điển Việt- Anh” và Từ điển Oxford’ thì Tổng công ty được được dich sang tiếng Anh là “Head offcice” hoặc “Head of Company” và được hiểu là văn phòng chính và trụ sở chính của nhiều công ty. Đây là một khái niệm tương đối đơn giản vì chưa đưa ra tiêu chí cụ thé dé xác định xác định mối quan hệ về vốn và tô chức của tông công ty.
Dưới góc độ học thuật: Theo quan điểm của các học giả Trung Quốc tông công ty được xác định là một tô chức kinh tế được hình thành theo Ị Hoàng Phê (1994), Tử điển tiếng Việt, Nhà xuất bản khoa học xã hội — Trung tâm từ điển học, Tr, 978. ? Trần Mạnh Tường (2009), Tir điển Việt — Anh), Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa, tr, 770. Đại Trường Phát (2004), Oxford Advanced Learner s Dictionary, Nhà xuất bản trẻ, tr, 748. * Bùi Phung (1996), Tir điển Việt =Anh, Nhà xuất bản thé giới, tr, 1812.
"Dai hoc thuong mai, van dé dia vi phap ly cua tap doan kinh tế nha nước ở Việt Nam, dưới góc độ luật so sánh, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, 2011; mô hình nhiều cấp liên kết băng quan hệ tài sản và quan hệ hợp tác. Các doanh nghiệp thành viên trong tập đoàn đều có tư cách pháp nhân độc lập nhưng tổng công ty không có tư cách pháp nhân. Công ty me là hạt nhân là đầu mối liên kết các thành viên trong tổng công ty. Sự liên kết giữa các doanh nghiệp thành viên thường được sử dụng bằng mối liên kết về chức năng và tài chính.
Ngoài việc công ty mẹ năm giữ vốn của các công ty con, mỗi công ty thành viên trong tong công ty có thé nam giữ phan vốn củacông ty thành viên khác. Dưới góc độ pháp ly Theo Khoản 1, Điều 188 Luật Doanh nghiệp số: 68/2014/QH13 ngày 29 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội thìkhái niệm tong công ty được quy định như sau “Tap đoàn kinh tế, tổng công ty thuộc các thành phan kinh tế là nhóm công ty có mối quan hệ với nhau thông qua sở hữu cổ phần, phần vốn góp hoặc liên kết khác. tổng công ty không phải là một loại hình doanh nghiệp, không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký thành lập”. Từ khái niệm đó, chúng ta có thể nhận biết tổng công ty qua các đặc điểm và hình thức nhận dạng như sau: Thit nhất, mỗi công ty thành viên trong tông công ty là một chủ thê với năng lực pháp lý đầy đủ, nhân danh chính mình thực hiện các quan hệ pháp luật.
Sự tập hợp của các công ty tạo thành nhóm không hướng đến việc hình thành một tô chức kinh tế mới tham gia thị trường mà thực hiện quá trình liên kết nhằm tối đa hóa lợi ích của từng công ty kinh doanh độc lập. Sự vận hành của nhóm công ty chính là sự vận hành của các công ty thành viên. Thứ: hai, tong công ty hình thành từ sự liên kết nhưng không xuất phát từ quá trình góp vốn chung, vì vậy nhóm công ty không nhận sự chuyên quyền sở hữu tài sản góp vốn từ các công ty thành viên nên không có tài sản chung. Các công ty thành viên thực hiện nghĩa vụ đóng góp tài chính để duy trì hoạt động của bộ máy quản tri nhằm thực hiện các trách nhiệm cần thiết cho hoạt động chung của tổng công ty.Vì thế, tổng công ty không phải là mộtloại hình doanh nghiệp, không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật.
Thứ ba,tông công ty được tổ chức dưới hình thức TCTNN hoặc tổng công ty tư nhân, trong đó: TCTNN là nhóm công ty được t6 chức dưới hình thức mô hình công ty mẹ - công ty con và các hình thức khác do Bộ quản lý ngành hoặc Ủy ban nhân dân quyết định thành lập thành lập, trong đó công ty mẹ do Nhà nước nam giữ 100% vốn điều lệ hoặc nắm giữ cổ phan chi phối, công ty con là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu han hai thành viên trở lên. Bộ quản lý ngành hoặc Ủy ban nhân dân thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước đối với phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp. Tổng công ty tư nhân là nhóm công ty được tô chức dưới hình thức dưới hình thức mô hình công ty mẹ - công ty con, trong đó công ty mẹ, công ty concó thể tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn theo quy định của luật doanh nghiệp hoặc của pháp luật có liên quan. Khái niệm, đặc điểm của tổng công ty nhà nước 1.
Khai niệm Dưới góc độ ngôn ngữ hoc, theo Từ dién Bach khoa thi “tong công ty nhà nước” được định nghĩa là “một trong các loại hình doanh nghiệp ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam’?. Theo định nghĩa này có thể hiểu TCTNN cũng là một tô chức kinh tế trong hệ thống các thành phan kinh tế của Việt Nam được hoạt động theo Luật DNNN. Và TCTNN được ra đời trong công cuộc đối mới toàn diện từ đất nước tại thời điểm Thủ tướng chính phủ ban hành quyết định số Quyết định số 90/TTg về việc tiếp tục sắp xếp DNNN. ° Hội đồng quốc gia chi đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (2005), Từ điển Bách khoa Việt Nam 4, Nhà xuât ban từ điên Bách khoa, Hà Nội, tr.
Dưới góc độ học thuật, theo y kiến của Trường Đại học Luật Hà nội, thì: “TCTNN hiện nay được hiểu là hình thức liên kết trên cơ sở tự đầu tư, góp vốn giữa các công ty nhà nước, giữa công ty nhà nước với các doanh nghiệp khác”. Theo khái niệm này thì TCTNN được hình thành trên cơ sở sự liên kết, có mối quan hệ gắn bó về hoạt động sản xuất kinh doanh, công nghệ, thị trường dé làm tăng hiệu quả kinh tế cho các đơn vị thành viên và tông công ty. Dưới góc độ pháp ly, khai niệm TCTNN được ra đời từ năm 1995 va có nhiều sự thay đôi, phát triển cụ thể như sau: Theo Khoản 1, Khoản 2 Điều 43 Luật DNNN số: 39-L/CTN ngày 20 tháng 4 năm 1995 của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “1- TCTNN được thành lập và hoạt động trên cơ sở liên kết của nhiều đơn vị thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, cung ứng, tiêu thụ, dịch vu, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị, hoạt động trong một hoặc một SỐ chuyên ngành kinh tẾ - kỹ thuật chính, nhằm tăng cường khả năng kinh doanh của các đơn vị thành viên và thực hiện các nhiệm vụ của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ. 2- TCTNN là tô chức kinh doanh có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản và có các quỹ tập trung theo quy định của Chính phủ, được Nhà nước giao quản lý vốn, tài nguyên, đất đai và các nguồn lực khác, có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực được giao, thực hiện quyền và nghĩa vụ của DNNN như quy định tại Chương II của Luật này.” Theo Điều 46 Luật DNNN số: 14/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: Truong Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Luật thương mai, Nhà xuất bản Công an nhân dân, tr, 221.
10 “TCTNN là hình thức liên kết kinh tế trên cơ sở tự đầu tư, góp vốn giữa các công ty nhà nước, giữa công ty nhà nước với các doanh nghiệp khác hoặc được hình thành trên cơ sở tô chức và liên kết các đơn vi thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác, hoạt động trong một hoặc một số chuyên ngành kinh tế - kỹ thuật chính nhằm tăng cường khả năng kinh doanh và thực hiện lợi ich của các đơn vi thành viên và toàn tổng công ty.” Theo Khoản 2 Điều 4 Nghị định số: 69/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2014 của Chính phủ về tập đoàn nhà nước và TCTNN quy định: “Tổng công ty là nhóm công ty, gồm công ty mẹ, các doanh nghiệp thành viên và công ty liên kết” Các quy định về khái niệm TCTNN qua các văn bản pháp luật trên đây cho thấy: Thứ nhất, giai đoạn trước năm 2003: Ö giai đoạn này, TCTNN pháp luật công nhận là một tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân. Đây là sự nhận thức pháp lý sai lầm nghiêm trọng do không phù hợp với nguyên lý kinh tế và pháp luật dân sự.Bởi, cơ sở để xác định một tổ chức có phải là pháp nhân hay không phải dựa trên quan hệ sở hữu về tài sản hay tư liệu sản xuất và khả năng tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của chính mình. Nhưngtài sản trong TCTNN thuộc sở hữu các công ty thành viên như công ty mẹ, công ty con. Do tổng công ty không có tài sản độc lập, vì thế việc chịu trách nhiệm bằng tài sản của TCTNN được trích từ tài sản của các đơn vị thành viên.
Quy phạm nêu trên đã thể hiện sự nhận thức thiếu trọn vẹn và không thống nhất giữa các văn bản Luật của nước ta.