Chương 1: MOT SO VAN DE CHUNG VE PHAN ĐỊNH BIEN 1. Khai niém phan dinh bién 1. Dinh nghia phan dinh bién Thuật ngữ “phân định” hay “delimitation” đã được dé cập đến tai Công ước Giơ-ne-vơ về lãnh hải và vùng tiếp giáp năm 1958. Tuy nhiên như đã đề cập ở trên, giai đoạn trước năm 1958 van đề phân định biển chủ yếu được đặt ra với lãnh hải, do đó khi được đề cập đến tại Công ước Giơ-ne-vơ về lãnh hải và vùng tiếp giáp năm 1958, phân định biển chỉ được áp dụng trong trường hợp các quốc gia có bờ biển năm đối diện hoặc tiếp liên hay tồn tại vùng chồng lan buộc hai nước phải cùng nhau xác định đường ranh giới chung.
Quy định trên cũng một lần nữa được nhắc lại và làm mới hơn tại UNCLOS 1982 dé phù hợp hơn với quan điểm lúc bấy giờ. Theo đó, quy định trên tương ứng với với quy định tại Điều 15 (phân định lãnh hải) cũng như tiếp tục mở rộng với quy định tại Điều 74 (phân định vùng đặc quyền kinh tế) và Điều 83 (phân định thêm lục địa) của Công ước Luật biển năm 1982. Thay vì chỉ áp dụng quy định đối với lãnh hải thi Công ước luật biển đã đặt ra quy định này cho cả vùng đặc quyền kinh tế và thêm lục địa và tiếp tục sử dụng thuật ngữ “phân định” với ý nghĩa là việc hoạch định ranh giới thêm lục địa giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liên hay đối diện nhau được thực hiện bằng con đường thỏa thuận theo đúng luật pháp quốc tế như đã duoc nêu ở Diéu 38 của Quy chế tòa án quốc tế, dé đi tới một giải pháp công bang'. Tương tự, phân định lãnh hải và phân định vùng đặc quyên kinh tế cũng được hiểu theo ý nghĩa trên, là việc thỏa thuận giữa các quốc gia nhằm hoạch định ranh giới các bộ phận của biển trong các trường hợp có bờ biển tiếp liền hoặc đối diện nhau.
Ngoài ra một trường hợp khác mà thuật ngữ phân định cũng được nhắc đến là tại Điều 50 Công ước luật biển Ở phía trong vùng nước quan đảo, quốc gia quan đảo có thé vạch những đường khép kin dé hoạch định ranh giới nội thủy của mình theo dung các Diéu 9, 10, và 117. Mặc dù cũng được hiểu với nghĩa là hoạch định ranh giới xong, trong trường hợp này việc phân định lại diễn ra ngay trong phạm vi một ' Điều 83 khoản 1 UNCLOS 1982 ? Điều 50 khoản 1 UNCLOS 1982. Như vậy quy định này đặt ra một nghĩa khác của thuật ngữ phân định, là việc tự xác định ranh giới các vùng biển của các quốc gia quan đảo dựa trên quy định của luật biên quốc tế. Theo đó, thuật ngữ phân định delimitation được sử dụng trong Công ước luật biên với 2 ý nghĩa là xác định ranh giới các vùng biên thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền của một quốc gia hoặc có ý nghĩa là xác định đường ranh giới chung trong trường hop ton tại vùng biển chồng lấn giữa các quốc gia năm đối diện hoặc tiếp liền.
Tuy chưa có một khái niệm thực sự cụ thé về thuật ngữ phân định biển tại các điều ước quốc tế, xong phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế (ICJ) trong vụ phân định thềm lục địa ở Biển Egê (Hy Lap/Thé Nhĩ Kỳ) ngày 19/12/1978 đã xác định mục đích của phân định biên là vạch một con đường chính xác hoặc nhiéu con đường chính xác nơi gặp nhau của các vùng không gian tại do thực hiện chủ quyên và quyên chủ quyên tương ứng của hai quốc gia). Như vậy, theo quan điểm của ICJ, phân định biển được đặt ra trong trường hợp tôn tại vùng biển chồng lan cần xác định đường ranh giới giữa các quốc gia ven biển nằm đối diện hoặc tiếp liên. Từ các phân tích trên, có thé hiểu phân định biển là hoạt động giữa hai hay nhiều quốc gia ven biển xác định nhằm xác định các đường ranh giới pháp lý phân chia các vùng biên chồng lan giữa các quốc gia trên trên cơ sở thỏa thuận trực tiếp hoặc thông qua bên thứ ba và phù hợp với các quy định của luật quốc tế. Tùy thuộc vào khu vực bị chồng lần là lãnh hải, tiếp giáp lãnh hai, vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) hay thềm lục địa mà luật biển quốc tế sẽ có những quy định khác nhau.
Xong, dù được quy định trong Công ước Geneva về Lãnh hải và tiếp giáp lãnh hải năm 1958 (CTS), Công ước Geneva về Thêm lục dia năm 1958 (CCS) và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biên năm 1982 (gọi tắt là UNCLOS 1982) thì hoạt động phân định biển đều ưu tiên sử dụng biện pháp dam phán dé đạt được thỏa thuận phân định biến. Đặc điểm pháp lý của phân định biển a. Chủ thể của phân định biển Chủ thé của phân định bién là Quốc gia - chủ thể chính yếu của luật quốc tế. Thông thường các giáo trình khi đề cập đến định nghĩa về quốc gia thường bắt đầu bằng Công ước về Quyền và Nghĩa vụ của Quốc gia năm 1933 (gọi tắt là Công : Aegean Sea Continental Shelf, Judgment, I.
Công ước này không phải là một điều ước đa phương phé quát, mà chỉ là một điều ước gồm thành viên là 16 quốc gia ở khu vực châu Mỹ, xong, đây hiện là văn bản duy nhất trong hệ thống pháp luật quốc tế có đề cập đến định nghĩa về “quốc gia”. Theo đó: “Một quốc gia với tư cách là chủ thể của luật pháp quốc tế nên có các tiêu chí sau: a) dân cư thường trú; b) lãnh thổ xác định; c) chính quyên; d) khả năng tham gia vào quan hệ với các quốc gia khác ”.* Hay quốc gia, với tư cách là chủ thể của pháp luật quốc tế phải đáp ứng đủ 4 điều kiện là: dân cư ôn định, lãnh thổ xác định, chính phủ và khả năng tham gia vào các quan hệ quốc tế. Các yếu tố trên cũng là điều kiện dé quốc gia trở thành chủ thé duy nhất của phân định biên. Quốc gia có đặc trưng là yếu tô câu thành và thuộc tính chủ quyên.
Yếu t6 cau thành 1 quốc gia bao gồm cộng đồng dân cư sinh sống lâu dai, ồn định (thường trú) và cơ sở vật lý quan trọng là lãnh thé xác định. Trong khi đó, chủ quyền quốc gia sẽ bao gồm 2 nội dung là Quốc gia có quyên tối cao trong phạm vi lãnh thổ và quyền độc lập tham gia vào các quan hệ quốc tế mà không phụ thuộc vào các quốc gia khác. Nhu đã nhắc đến ở trên, quan điểm của ICJ về phân định biển là hoạt động vạch một con đường chính xác hoặc nhiều con đường chính xác nơi gặp nhau của các vùng không gian tại đó thực hiện chủ quyén và quyên chủ quyên tương ứng của hai quốc gia." Đầu tiên, phân định biển phải được tiến hành trong điều kiện có các vùng không gian bị chồng lẫn, nhằm xác định các danh nghĩa pháp lý tương ứng của mỗi chủ thê của tranh chấp trên các vùng này. Điều này đồng nghĩa với việc phân định bién là hành vi quốc tế mang tính chính trị, pháp lý và kỹ thuật đồng thời gắn liền với lãnh thổ tức yêu tô cấu thành quốc gia.
Các tổ chức quốc tế như Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO), Cơ quan quyền lực đáy đại đương (ISA).không thể tham gia vào 4 Điều I Công ước Montevideo. The state as a person of international law should possess the following qualifications: a) a permanent population, b) a defined territory; c) government; and d) capacity to enter into relations with the other states) > Aegean Sea Continental Shelf, Judgment, I. 9 quan hệ pháp luật quốc tế về phân định biển với tư cách chủ thé do thiếu yếu tổ lãnh thổ. Và điều này là hoàn toàn tương tự đối với trường hợp phân định biển giữa các bang trong một quốc gia liên bang hay giữa các vùng, miền của một quốc gia với nhau cũng không thuộc đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế về phân định biển.
Điều kiện làm nay sinh phân định biển Phân định bién chỉ diễn ra trên cơ sở có sự chồng lan các vùng biển mà cụ thé là chồng lan danh nghĩa. Vùng chồng lấn là một khu vực biển mà hai hay nhiều quốc gia đều có yêu sách hợp pháp theo luật pháp quốc tế. Vùng chồng lắn thường xuất hiện giữa các quốc gia có bờ biên liên kế nhau hoặc đối diện nhau nhưng khoảng cách giữa bờ bién các nước này không đủ dé mỗi nước xác lập chiều rộng tối đa cho các vùng biển của mình mà không chồng lấn lên nhau. Vi dụ như vùng chồng lấn lãnh hải giữa hai nước có bờ bién đối diện nhau nhưng khoảng cách giữa các bờ biển dưới 24 hải lý, tạo ra một khu vực biển nằm giữa hai nước nơi mà yêu sách 12 hải lý lãnh hải của từng nước chồng lên nhau.
Đối với các vùng biển rộng lớn hơn như vùng đặc quyền kinh tế và thêm lục địa, khả năng xuất hiện vùng chồng lấn là rất lớn. Điều này có nghĩa là các quốc gia đều có cơ sở pháp lý để yêu sách các vùng biển của mình. Trong khi đó “chồng lẫn danh nghĩa” đã được ICJ chỉ ra trong vụ thêm lục địa Libya/Malta năm 1984 rằng vấn dé danh nghĩa. và vấn dé phân định.
là hai van dé không hoàn toàn khác biệt nhau mà ngược lại còn bồ sung cho nhau. Quan điểm trên của ICJ đã đặt ra nguyên tắc cho các bên khi tham gia vào quá trình phân định phải chứng minh danh nghĩa pháp lý để xác định quyền được phân định giữa các bên hữu quan theo pháp luật quốc tế. Điều này có nghĩa, các quốc gia phải chứng minh quyền được tham gia vào các quan hệ về phân định biển dựa trên căn cứ pháp ly va thực tiễn. Đồng thời cho thấy, thực chất của việc phân định biển không phải là xác định hành vi vi phạm luật quốc tế, mà là xác định tác động của danh nghĩa pháp lý của mỗi quốc gia đến các vùng biển căn cứ vào các quy định của luật biển quốc tế.
Minh chứng cho lập luận trên là quá trình các quốc gia tham gia vào phân định thêm lục địa. Do quy định của UNCLOS 1982 đặt ra các cách xác định vùng thềm lục địa của quôc gia ven biên là bao gồm đáy biên và lòng dat dưới đáy biên bên ® 1CJ (1958), Continental She If (Libyan Arab Jamahiriya/Malta), Judgment, p.