Tổng quan nghiên cứu

Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long sở hữu hơn 700 km đường bờ biển với 23 cửa sông lớn nhỏ, giữ vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng. Tuy nhiên, tình trạng biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang gây ra xói lở nghiêm trọng, làm mất hàng trăm hecta rừng phòng hộ mỗi năm, đe dọa trực tiếp đến đời sống của hàng triệu người dân tại các điểm nóng như Gành Hào, Bồ Đề và U Minh Hạ. Nền đất ven biển vùng nghiên cứu chủ yếu là bùn sét bão hòa nước có sức chịu tải rất thấp, chỉ dao động từ 0,5 đến 1,0 daN/cm2, khiến các giải pháp công trình truyền thống gặp nhiều trở ngại. Kè đá đổ trọng lực thường bị lún chìm sâu vào tầng bùn mềm, trong khi kè cọc ly tâm hai hàng có chi phí đầu tư rất cao, lên đến 25 - 30 triệu đồng trên mỗi mét dài.

Đề tài tập trung nghiên cứu giải pháp đê trụ rỗng nhằm giải quyết bài toán tiêu giảm năng lượng sóng và bảo vệ bờ biển Đông, ứng dụng cụ thể tại bờ biển phường Nhà Mát, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Khác với vùng biển Tây có biên độ triều nhỏ từ 0,7 đến 1,0 m, vùng biển Đông chịu chế độ bán nhật triều không đều với biên độ lớn từ 2,5 đến 3,5 m cùng chiều cao sóng bão cực đại có thể vượt quá 6,0 m. Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xây dựng quy trình tính toán ổn định trạng thái giới hạn thứ nhất, xác định cơ chế ổn định kết hợp giữa trọng lực và ngàm chân khay, từ đó tìm ra thông số hình học chân khay tối ưu.

Kết quả của luận văn mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn khi giúp giảm chi phí xây dựng từ 20% đến 30% so với kết cấu cọc ly tâm, đồng thời nâng cao hiệu quả tiêu tán năng lượng sóng từ 70% đến hơn 89%, tạo bãi bồi lắng đọng phù sa để phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết cơ học đất nền móng công trình thủy công và lý thuyết thủy động lực học sóng biển. Cơ sở phân tích ổn định tổng thể tuân thủ Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 4253:2012 về thiết kế nền công trình thủy công và Tiêu chuẩn cơ sở TCCS 01:2018/VTC của Viện Thủy công. Luận văn ứng dụng mô hình tương tác đất nền chịu tải trọng phức hợp đồng thời gồm lực đứng V, lực ngang H và mô men lật M theo lý luận của Ngo Tran (1996) để đánh giá khả năng chịu tải giới hạn của móng nông trên đất yếu.

Bên cạnh đó, áp lực sóng tác dụng lên mặt cong đục lỗ của đê trụ rỗng được tính toán dựa trên mô hình lý thuyết của Tanimoto, Takahashi và phương pháp phân tích của Yuan Dekui - Tao Jianhua. Các khái niệm nền tảng được làm rõ bao gồm:

  • Cấu kiện đê trụ rỗng: Khối bê tông cốt thép mác M400 đúc sẵn dạng vòm nửa hình trụ rỗng, bố trí các lỗ tiêu sóng bề mặt nhằm giảm áp lực thủy động.
  • Nguyên lý ổn định kết hợp trọng lực và ngàm: Sự phối hợp giữa trọng lượng bản thân kết cấu, khối đá gia tải trong lòng đê và lực cản cắt của chân khay cắm sâu vào tầng đất nền.
  • Cơ chế phá hoại cắt trên nền đất yếu: Bao gồm ba hình thức phá hoại cắt tổng thể, phá hoại cắt cục bộ và phá hoại cắt kiểu xuyên qua tầng bùn sét.
  • Hệ số an toàn giảm cường độ chống cắt (Msf): Tỷ số giữa sức chống cắt thực tế của đất nền và sức chống cắt tới hạn khi bắt đầu xuất hiện mặt trượt dẻo liên tục.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được tổng hợp từ hồ sơ khảo sát địa kỹ thuật, tài liệu quan trắc khí tượng hải văn tại 4 mặt cắt tính toán đặc thù ở bờ biển phường Nhà Mát, kết hợp kế thừa số liệu từ 180 m đê thử nghiệm năm 2016 và 500 m đê xây dựng năm 2019 tại Cà Mau, cùng tuyến thử nghiệm 60 m tại Bạc Liêu thuộc Chương trình Khoa học Công nghệ cấp Quốc gia KC09.

Phương pháp chọn mẫu địa chất được thực hiện thông qua hệ thống các hố khoan khảo sát hiện trường, lấy mẫu đất nguyên dạng để thí nghiệm nén không cố kết - không thoát nước (sơ đồ UU). Kết quả phân tích xác định các chỉ tiêu cơ lý đặc trưng của tầng bùn sét Nhà Mát gồm: lực dính đơn vị c bằng 3,8 kPa, góc ma sát trong phi bằng 2 độ 58 phút, dung trọng tự nhiên 15,7 kN/m3 và hệ số rỗng ban đầu e0 lên đến 1,899.

Tác giả lựa chọn phương pháp phân tích số phần tử hữu hạn (FEM) bằng phần mềm Plaxis 2D song song với phương pháp giải tích truyền thống. Lý do lựa chọn là vì trên nền đất dính bão hòa nước có góc ma sát trong rất nhỏ xấp xỉ bằng 0 độ, các công thức giải tích cổ điển không thể xác định chính xác cường độ chống trượt hỗn hợp và bề rộng phân bố ứng suất đáy móng. Mô hình phần tử hữu hạn với phần tử tam giác 15 nút cho phép mô phỏng chính xác trường biến dạng, sự tập trung ứng suất và cơ chế hình thành mặt trượt dẻo cục bộ xung quanh chân khay.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu khẳng định kết cấu đê trụ rỗng đáy phẳng thông thường (chiều sâu chân khay d bằng 0 m) không đảm bảo điều kiện ổn định chống trượt tại vùng biển Đông. Dưới tác động của tổ hợp sóng bão thiết kế tần suất 5% và triều cường ở cao trình trên 2,0 m, hệ số an toàn chống trượt tính theo phương pháp giải tích chỉ đạt dưới 1,05, tiềm ẩn nguy cơ dịch chuyển ngang nghiêm trọng.

Thứ hai, việc bổ sung chân khay cắm sâu vào nền đất tạo ra bước đột phá về khả năng kháng trượt và kháng lật. Khi tăng chiều sâu chân khay d từ 0,25 m lên 2,0 m, hệ số ổn định trượt và ổn định lật tăng theo hàm bậc nhất. Tại giá trị d bằng 0,5 m, hệ số ổn định trượt tăng 35,4% so với đáy phẳng; khi d đạt 1,0 m, hệ số ổn định trượt đạt giá trị 1,38 và hệ số chống lật vượt mức 1,65, đáp ứng hoàn toàn yêu cầu an toàn theo TCVN 4253:2012.

Thứ ba, phân tích biến dạng nền đất cho thấy chân khay giúp kiểm soát độ lún lệch và giảm đáng kể chuyển vị ngang của công trình. Khi d tăng từ 0 m lên 1,0 m, tổng chuyển vị ngang cực đại của đỉnh đê giảm hơn 42%, từ 12,6 cm xuống còn dưới 7,3 cm. Đồng thời, cấu trúc chân khay giúp hạn chế việc phải gia tăng quá nhiều đá hộc trong lòng đê, giảm tải trọng thẳng đứng truyền xuống nền đất yếu khoảng 18% đến 22%, từ đó triệt tiêu nguy cơ lún chìm không kiểm soát.

Thứ tư, hiệu quả tiêu giảm năng lượng sóng của cấu kiện vòm trụ rỗng đục lỗ đạt từ 70,9% đến 89,3%, làm giảm chiều cao sóng truyền qua sau đê xuống dưới mức 0,4 m. Điều này tạo ra vùng nước tĩnh phía sau công trình, thúc đẩy quá trình bồi tụ bùn cát mịn với tỷ lệ giữ lại phù sa đạt trên 80%.

Thảo luận kết quả

Cơ chế ổn định vượt trội của đê trụ rỗng có chân khay bắt nguồn từ việc chuyển đổi sơ đồ làm việc từ móng trọng lực đơn thuần sang cơ chế kết hợp trọng lực và ngàm. Khi chịu lực đẩy ngang từ sóng bão, chân khay đóng vai trò như một tường cừ ngàm chặt vào đất, huy động trực tiếp áp lực đất bị động ở phía trước và lực ma sát cắt ở hai bên cánh, giúp san sẻ ứng suất cắt nguy hiểm tại mặt tiếp xúc đáy đê.

So sánh với các nghiên cứu thử nghiệm tại bờ biển Tây tỉnh Cà Mau, điều kiện sóng và triều tại bờ biển Đông phường Nhà Mát đòi hỏi lực kháng trượt lớn hơn khoảng 1,6 lần. Tại biển Tây, ổn định chủ yếu đạt được bằng cách nâng chiều cao lớp đá đổ trong thân đê; tuy nhiên giải pháp này nếu áp dụng cho biển Đông sẽ làm tăng áp lực đáy móng vượt quá sức chịu tải của bùn sét Nhà Mát (lực dính chỉ 3,8 kPa so với 7,0 kPa tại Bến Tre). Do đó, giải pháp chân khay là lựa chọn kỹ thuật tối ưu nhất.

Các dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan thông qua đồ thị tương quan giữa chiều sâu chân khay d và hệ số ổn định an toàn K, cũng như biểu đồ phát triển hệ số giảm cường độ cắt Msf theo gia số chuyển vị nút khống chế trong Plaxis. Sự phù hợp giữa đường cong giải tích và kết quả mô phỏng số khẳng định độ tin cậy của mô hình tính toán.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Tối ưu hóa kích thước hình học chân khay: Lựa chọn chiều sâu chân khay thiết kế chuẩn từ 0,75 m đến 1,0 m cho cấu kiện đê trụ rỗng DTR304F tại khu vực bờ biển phường Nhà Mát, bảo đảm hệ số ổn định chống trượt luôn lớn hơn 1,25 trong mọi điều kiện tổ hợp tải trọng bất lợi nhất.
  • Chuẩn hóa quy trình chế tạo và thi công lắp đặt: Áp dụng công nghệ đúc sẵn bằng ván khuôn thép định hình với bê tông mác M400 tại nhà xưởng, sử dụng cẩu nổi chuyên dụng có tải trọng trên 50 tấn để lắp đặt trong khung thời gian biển lặng từ tháng 4 đến tháng 9, bảo đảm liên kết khớp nối âm dương sâu 5 cm kín khít tuyệt đối.
  • Nâng cấp khung tiêu chuẩn thiết kế chuyên ngành: Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam và các cơ quan quản lý cần phối hợp bổ sung hướng dẫn tính toán ổn định công trình có chân khay vào Tiêu chuẩn Quốc gia trước năm 2028, mở rộng phạm vi áp dụng cho toàn bộ các tỉnh duyên hải Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Thiết lập hệ thống quan trắc hiện trường tự động: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu cần bố trí kinh phí đo đạc định kỳ 3 tháng một lần trong 2 năm đầu về độ lún, độ nghiêng thân đê và diễn biến bồi xói đáy biển xung quanh mũi chân khay nhằm đưa ra giải pháp bảo trì hộ chân kịp thời.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Kỹ sư thiết kế công trình thủy lợi và công trình biển: Nắm bắt quy trình tính toán ổn định móng đê giảm sóng chịu tổ hợp tải trọng đứng, ngang, mô men và tra cứu trực tiếp thông số chân khay tối ưu cho các dự án bảo vệ bờ biển.
  • Cán bộ quản lý tại các Ban Quản lý Dự án và Sở Nông nghiệp & PTNT: Sử dụng số liệu làm căn cứ khoa học để thẩm định hồ sơ thiết kế, lập dự toán kinh phí và đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật giữa đê trụ rỗng với kè cọc ly tâm hay kè đá đổ.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Thủy công: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuyên sâu về mô phỏng tương tác đất nền - kết cấu thủy công bằng phần mềm phần tử hữu hạn trên nền đất sét yếu bão hòa nước.
  • Các tổ chức quốc tế và cơ quan tài trợ phát triển ven biển: Tham khảo mô hình công trình giảm sóng thân thiện sinh thái để tài trợ các dự án phục hồi rừng ngập mặn và thích ứng biến đổi khí hậu tại Đông Nam Á.

Câu hỏi thường gặp

Đê trụ rỗng có ưu điểm gì vượt trội so với kè đá đổ truyền thống trên nền đất yếu? Đê trụ rỗng có trọng lượng nhẹ hơn nhiều nhờ cấu trúc rỗng, không gây lún chìm sâu vào tầng bùn sét có sức chịu tải dưới 1,0 daN/cm2. Ngoài ra, việc đúc sẵn tại nhà máy giúp rút ngắn 50% tiến độ thi công ngoài biển và giảm chi phí vận chuyển đá hộc đắt đỏ tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Tại sao đê trụ rỗng vùng biển Đông bắt buộc phải có chân khay thay vì chỉ tăng lượng đá đổ? Vùng biển Đông có biên độ triều cao đến 3,5 m và tải trọng sóng lớn hơn vùng biển Tây từ 1,5 đến 1,8 lần. Nếu chỉ gia tải bằng đá đổ trong lòng đê, tải trọng thẳng đứng quá lớn sẽ gây phá hoại cắt xuyên tầng đất yếu có lực dính chỉ 3,8 kPa, làm đê bị lún sụt nghiêm trọng.

Chiều sâu chân khay bao nhiêu là tối ưu nhất cho khu vực Nhà Mát - Bạc Liêu? Qua phân tích mô phỏng Plaxis và phương pháp giải tích, chiều sâu chân khay từ 0,75 m đến 1,0 m là tối ưu nhất. Mức chiều sâu này giúp hệ số ổn định trượt đạt 1,38, giảm 42% chuyển vị ngang mà vẫn đảm bảo tính khả thi trong khâu hạ đặt cấu kiện xuống nền biển.

Cấu kiện đê trụ rỗng tiêu giảm năng lượng sóng theo nguyên lý nào? Kết cấu tiêu tán sóng nhờ các lỗ rỗng đục trên bề mặt vòm cong làm triệt tiêu áp lực sóng phản xạ và chia nhỏ dòng chảy khi tràn qua thân đê. Hiệu quả tiêu tán năng lượng sóng đạt từ 70,9% đến 89,3%, làm giảm chiều cao sóng tới bờ còn dưới 0,4 m.

Chi phí xây dựng đê trụ rỗng so với kè cọc ly tâm hai hàng chênh lệch như thế nào? Đê trụ rỗng có suất đầu tư khoảng 18 đến 22 triệu đồng trên mỗi mét dài, tiết kiệm từ 20% đến 30% so với giải pháp kè hai hàng cọc ly tâm (khoảng 25 đến 30 triệu đồng/m), đồng thời có khả năng tháo dỡ và tái sử dụng linh hoạt khi bãi bồi đã ổn định.

Kết luận

  • Luận văn đã làm sáng tỏ nguyên lý ổn định kết hợp trọng lực và ngàm chân khay cho công trình đê trụ rỗng trên nền đất yếu vùng biển Đông.
  • Xây dựng thành công quy trình tính toán ổn định trạng thái giới hạn thứ nhất, chứng minh kết cấu đáy phẳng không an toàn và khẳng định tính tất yếu của chân khay.
  • Xác định chiều sâu chân khay tối ưu từ 0,75 m đến 1,0 m cho khu vực Nhà Mát - Bạc Liêu, nâng hệ số an toàn chống trượt lên trên 1,38 và giảm hơn 40% chuyển vị ngang.
  • Khẳng định hiệu quả tiêu giảm năng lượng sóng từ 70% đến gần 90%, hỗ trợ giữ phù sa và phục hồi rừng ngập mặn phòng hộ ven biển.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng để mở rộng áp dụng công nghệ đê trụ rỗng có chân khay cho toàn vùng duyên hải Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2025 - 2030.

Các đơn vị tư vấn thiết kế và chủ đầu tư công trình ven biển nên sớm ứng dụng giải pháp chân khay đê trụ rỗng vào các dự án kè cấp bách bảo vệ bờ biển nhằm nâng cao chất lượng công trình và tiết kiệm ngân sách nhà nước.