MỞ ĐẦU Việc đốt nhiên liệu hóa thạch và sinh khối đã tăng mạnh trong những thập kỷ gần đây do kết quả của sự phát triển kinh tế và công nghiệp toàn cầu nhanh chóng. Điều này đã dẫn đến sự phát thải một lượng lớn bụi vào không khí xung quanh và các hợp chất chứa cacbon trở thành thành phần chính của bụi trong khí quyên. Ô nhiễm không khí nói chung và ô nhiễm bụi nói riêng đã và đang trở thành một trong những vấn đề nóng bỏng hiện nay. Ô nhiễm bụi làm suy giảm chất lượng không khí, giảm tầm nhìn, giảm năng suất cây trồng, gây nên các tác động bắt lợi đến sức khỏe con người, và làm thay đôi cân bằng bức xạ của trái đất.
Nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam đang chịu sự suy thoái liên tục của chất lượng không khí xung quanh và các vấn đề sức khỏe liên quan do tác động của bụi đặc biệt là bụi mịn PM:s. Bên cạnh việc gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng thì ô nhiễm bụi còn ảnh hưởng đến nhiều quá trình vật lý và hóa học trong khí quyên ở các quy mô và phạm vi khác nhau. Ở quy mô toàn cầu, bụi ảnh hưởng đến cân bằng bức xạ của trái đất một cách trực tiếp qua các quá trình hấp thụ và tán xạ bức xạ mặt trời và gián tiếp qua việc đóng vai trò là hạt nhân tạo nên các đám mây. Ở quy mô đô thị và khu vực, bụi làm giảm tầm nhìn và gây nên các tác động bắt lợi đến sức khỏe cộng đồng.
Các chất/hợp chất chứa cacbon bao gồm cacbon hữu cơ (OC) và cacbon nguyên tố (EC) thuộc nhóm thành phần chính của bụi, chiếm tới ~10-70% về khối lượng của bụi mịn trong không khí đô thị. EC được tạo ra trong quá trình đốt cháy không hoàn toàn các nhiên liệu dựa trên carbon, chủ yếu là gỗ được sử dụng cho mục đích dân dụng, nhiên liệu hóa thạch được sử dụng trong giao thông vận tải và các nhà máy nhiệt điện than,. OC có thể được phát thải trực tiếp ở dạng hạt và cũng có thê được hình thành từ quá trình chuyển đổi khí thành hạt (thứ cấp) từ các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOC) có trong khí quyển. Lượng OC và EC trong bụi và tỷ lệ OC/EC là một trong những thông số quan trọng giúp dự đoán nguồn thải cũng như đánh giá tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của bụi đối với hiện tượng cưỡng bức bức xạ quy mô khu vực.
Theo Báo cáo của Chính phủ về công tác bảo vệ môi trường năm 2020, giai đoạn 2016 - 2020, tình trạng ô nhiễm bụi tại các thành phố, đô thị lớn, các khu vực công nghiệp, đặc biệt tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh luôn là một trong những vẫn đề nóng, đặt ra nhiều thách thức. Hà Nội là thành phố có mức độ ô nhiễm bụi và biến động qua các năm cao hơn so với các đô thị khác. Giá trị trung bình năm của 1 thông số bụi PM›s và PMio tại tắt cả các trạm quan trắc môi trường không khí tự động, liên tục tại Hà Nội giai đoạn năm 2018 - 2020 đều vượt quá giới hạn cho phép so với QCVN 05:2013/BTNMT. Nguồn gốc ô nhiễm bụi tại Hà Nội vẫn đang được nghiên cứu và được chỉ ra là từ hoạt động giao thông, đốt sinh khối, đốt nhiên liệu hoá thạch như than, và từ một số phản ứng quang hoá trong không khí.
Trên thế giới, các thành phần cacbon trong bụi mịn đặc biệt là cacbon nâu (BrC) là một trong những chủ đề mới được quan tâm khi nghiên cứu về ô nhiễm bụi và biến đổi khí hậu do những tác động đáng kể của thành phần cacbon này đến chất lượng môi trường và biến đổi khí hậu. Tuy nhiên tại Việt Nam, các nghiên cứu về EC, OC, BrC hầu như là chưa được đề cập. Tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng. Do do, dé tài “Nghiên cứu, đánh giá các thành phần cacbon trong bụi mịn PM:s thu thập tại Hà Nội” được thực hiện nhằm khảo sát các thành phần cacbon trong bụi mịn, đánh giá, so sánh thành phần cacbon và sự tương quan giữa nồng độ bụi với các thành phần cacbon trong mẫu bụi mịn tại một điểm đo ở Hà Nội.
Bên canh đó, nghiên cứu cũng đánh giá sự xuất hiện cacbon nâu trong bụi PMas ở thành phố Hà Nội và khả năng hấp thụ bức xạ của chúng. CHƯƠNG1: TỎNG QUAN ĐẺ TÀI 1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VÈ BỤI MỊN VÀ Ô NHIÊM BỤI MIN 1.1 Giới thiệu chung về bụi mịn Khái niệm bụi Bụi (Particulate Matter, PM) là một hệ phân tán trong đó môi trường phân tán là khí và pha phân tán là các hạt rắn hoặc lỏng hoặc nửa rắn nửa lỏng có kích thước nằm trong khoảng từ kích thước đơn phân tử đến 500 um[1]. Bụi được đặc trưng bởi các đặc điểm vật lý, hóa học và sinh học như hình đạng, kích thước, mức độ tán xạ, hấp thụ ánh sáng, pha tồn tại, tính chất khí động học, thành phần hóa học, .Trong đó, kích thước hạt là yếu tố chi phối nhiều tới các đặc điểm quan trọng khác của bụi như thời gian lưu trong khí quyền, thành phần hóa học, tác hại đến sức khỏe cộng đồng,. Phân loại bụi: Bụi có thé duoc phan loai theo nguồn gốc, theo độc tính, tác hại sức khỏe,.
nhưng phổ biến nhất là phân loại theo kích thước. Theo kích thước, bụi có thê được phân chia thành các loại sau: - Bui ling (Dustfall): Là hạt bụi co đường kính khí động học lớn hon 100 pm. - Bui lo lung (SPM): La hạt bụi có đường kính khí động hoc nho hon 100 pm. Bụi lơ lửng có thể được chia thành các loại chính sau: e Bui PMio: La các hạt bụi có đường kính khí động học nhỏ hơn hoặc bằng 10 um.
e® _ Bụi PMas: Là các hạt bụi có đường kính khí động học nhỏ hơn hoặc bằng 2,5 um. Bụi PM: s cũng thường được gọi là bụi mịn. Đường kính khí động học của một hạt bụi có hình dạng và khối lượng riêng tùy ý là đường kính của một hạt so sánh, có hình cầu và khối lượng riêng 1 g/cm, có tốc độ lắng bằng tốc độ lắng của hạt bụi thử nghiệm ở cùng điều kiện[2]. €©€PM25 Hạt kim loại, sản phẩm sau đốt cháy TÓC NGƯỜI 50-70um ©PMo Bụi, phấn hoa, mốc HẠT CÁT 90um Hình 1.
Kích thước bụi PM:; và PM‹› so với sợi tóc Sự phân bố nồng độ khối lượng (mass concentration) các loại bụi được thê hiện trong Hình 1. 10 TSP PM v0 8 PM 25 <= l 6 Bui thé Bụi siêu thô H Bại mịn `, .& 2 or s ep s2 7 0 ~ to? HH 2 100 1000 10000 100000 Đường kính khí động học, nm Hình 1. Phân bố nồng độ khối lượng theo kích thước bụi [3] Bui min co thé đến từ nhiều nguồn khác nhau, làm cho nó trở thành một loại ô nhiễm rất phức tạp. Theo nguồn phát sinh có thê phân loại thành bụi sơ cấp, là bụi được phát thải trực tiếp từ các nguồn thải và bụi thứ cấp là bụi được hình thành từ các phản ứng hóa học và quang hóa trong khí quyền.2 Thành phần hóa học của bụi mịn Thanh phan hóa học của bụi có sự khác nhau rất lớn theo cả thời gian lẫn không gian phụ thuộc vào nguồn phát sinh bụi.
Tuy nhiên, các thành phần chính của bụi có thể kê đến là thành phần nguyên tố, ion vô cơ, cacbon nguyên tố (EC) và cacbon hữu cơ (OC) [2]. Theo cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ thành phần cơ bản của bụi PMas và nguồn phát sinh của chúng được trình bày trong bảng sau đây. Nguồn phát sinh của các thành phần trong bụi PM›:s Thành phần hóa học Nguồn EC Đốt nhiên liệu (giao thông, công nghiệp, đốt than, củi) oc Đốt nhiên liệu, hữu cơ thứ cấp, sol khí từ quá trình oxy hóa VOC. Chuyên đổi của khí hạt SO›, NOa được sinh nitrat/sunfat có.
ra từ quá trình cháy. Chuyển đổi khí hạt của NHs từ sản xuất công amoni nghiệp Clorua Từ quá trình phun nước biển Khoáng chất (oxit Ca, Mg, Si, Sự tái tạo của bụi, đất AI, Fe) Kim loại (K, V và Ni, Pb, Zn, Công nghiệp, quá trình chá Ca, Hg, .3 Tác hại của bụi mịn 1.1 Ảnh hưởng đến môi trường Bụi mịn (PM:s) là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng khói mù làm giảm tầm nhìn đặc biệt là ở các thành phố lớn. Ô nhiễm bụi một vấn để toàn cầu làm suy giảm chất lượng không khí, giảm tầm nhìn, giảm năng suất cây trồng. Ngoài ra bụi cũng ảnh hưởng đến cân bằng bức xạ của trái đất.
Từ việc làm suy giảm chất lượng không khí, giảm tầm nhìn đến hấp thụ và phân tán bức xạ mặt trời, và thay đổi cân bằng bức xạ trái đất, bụi cũng có thê ảnh hưởng gián tiếp đến chu kỳ thủy văn khu vực bằng cách giảm bán kính mây hiệu quả.2 Ảnh hưởng tới sức khỏe con người 190 = 08 Ton: 06 ~ 8 04 = 02 ~ = 08 = > ` + a oe Đường dan khi o4 trên ngực £ 02 4 € %2. 2 04 = ere ‘S o2- Phe quan | oe een ae On — rs S 02 Tiêu phê quản xế ¬__Ầ 08 = 0,6 — é el Phe nang 02 J ‘ 1 ’ ‹ 0,01 01 10 10 Đường kinh hat, pm Hinh 1. Sw lang đọng toàn bộ và cục bộ của bụi trong hệ hô hap[4] Khi bụi mịn đi vào co thé con người, chủ yếu qua đường hô hấp, chúng thường lắng đọng trong một số cơ quan. Không giống với cơ chế lắng đọng nhờ trọng lực như các hạt có kích thước lớn, bụi mịn thường lắng đọng nhờ cơ chế khuếch tán.
cho thấy bụi nano lắng đọng hiệu quả nhất trong tiêu phế quản và phế nang trong khi các hạt có kích thước lớn hơn (1-10um) ưu tiên lắng đọng trên đường dẫn khí trên ngực và phế quản. Một lượng lớn các hạt có kích thước rất nhỏ (1-15nm) cũng lắng đọng tại đường dẫn khí trên bao gồm cả mũi. Nhiều nghiên cứu về sức khỏe đã phát hiện ra rằng nồng độ bụi PMas cao trong không khí có thể liên quan đến việc gia tăng các tác động tiêu cực đến sức khỏe, bao 6 gồm tăng tỷ lệ mắc bệnh hô hấp, lam tram trọng thêm các triệu chứng bệnh hô hấp và ảnh hưởng tim mạch có thể dẫn đến dau tim và tử vong. Các tác động sức khỏe của PM›s đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến dân số ở các khu vực khác nhau trên thế giới.
WHO ước tính rằng ô nhiễm không khí giết chết ước tính khoảng bảy triệu người trên toàn thế giới mỗi năm.