Luận văn thạc sĩ về nhân giống tam thất gừng Stahlianthus thorelii Gagnep qua nuôi cấy in vitro

Nghiên cứu nhân giống tam thất gừng Stahlianthus thorelii Gagnep bằng phương pháp nuôi cấy in vitro, ứng dụng trong nông nghiệp và bảo tồn.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Công nghệ Sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp đại học

2014

59
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục đích nghiên cứu

1.2. Yêu cầu của đề tài

1.3. Ý nghĩa của đề tài

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Giới thiệu về tam thất gừng

2.2. Nguồn gốc và phân loại

2.2.1. Nguồn gốc

2.2.2. Phân loại

2.3. Đặc điểm hình thái tam thất gừng

2.3.1. Thân rễ

2.3.2.

2.3.3. Hoa

2.3.4. Phân bố

2.4. Giá trị của tam thất gừng

2.4.1. Giá trị kinh tế

2.4.2. Giá trị dược liệu

2.5. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu trên thế giới và Việt Nam

2.5.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu trên thế giới

2.5.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu ở Việt Nam

3. PHẦN 3: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Vật liệu nghiên cứu

3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.3. Hóa chất và thiết bị

3.4. Nội dung nghiên cứu

3.4.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian khử trùng bằng HgCl2 0,1% đến khả năng vô trùng mẫu

3.4.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp cắt mẫu đến khả năng tái sinh chồi

3.4.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ BA đến khả năng cảm ứng chồi

3.4.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất kích thích sinh trưởng (BA, kinetin, NAA và TDZ) đến khả năng nhân nhanh chồi

3.4.5. Nghiên cứu ảnh hưởng của GA3 đến khả năng kéo dài chồi sau khi tái sinh từ củ

3.4.6. Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây con in vitro

3.5. Phương pháp nghiên cứu

3.6. Xử lý số liệu

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian khử trùng bằng HgCl2 0,1% đến khả năng vô trùng mẫu

4.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp cắt mẫu đến khả năng tái sinh chồi

4.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ BA đến khả năng cảm ứng chồi

4.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất kích thích sinh trưởng (BA, kinetin, NAA và TDZ) đến khả năng nhân nhanh chồi

4.5. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của BA kết hợp với NAA đến khả năng nhân nhanh chồi

4.6. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của BA kết hợp NAA và kinetin đến khả năng nhân nhanh chồi

4.7. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của BA kết hợp NAA và TDZ đến khả năng nhân nhanh chồi

4.8. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của GA3 đến khả năng kéo dài chồi

4.9. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây con

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về tam thất gừng và phương pháp nhân giống

Tam thất gừng (Stahlianthus thorelii Gagnep) là một loài thực vật thuộc họ gừng (Zingiberaceae), có giá trị dược liệu cao. Loài này phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, Trung Quốc, và Ấn Độ. Nhân giống tam thất gừng bằng phương pháp nuôi cấy in vitro được xem là giải pháp hiệu quả để bảo tồn và phát triển loài cây này. Phương pháp này giúp tăng tốc độ nhân giống, đảm bảo chất lượng cây con, và giảm thiểu sự phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh.

1.1. Đặc điểm hình thái và giá trị của tam thất gừng

Tam thất gừng có thân rễ ngắn, mang nhiều củ nhỏ xếp thành chuỗi. Lá của cây mọc rời, phiến lá thuôn dài, màu lục pha nâu. Cây có giá trị kinh tế và dược liệu cao, chứa các hợp chất như tinh dầu, acid amin, và khoáng chất. Trong y học cổ truyền, tam thất gừng được sử dụng để chữa các bệnh như đau nhức xương khớp, thổ huyết, và rắn cắn.

1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu

Trên thế giới, nhu cầu sử dụng cây dược liệu ngày càng tăng, đặc biệt ở các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, và Mỹ. Ở Việt Nam, tam thất gừng chủ yếu được trồng ở các tỉnh miền núi phía Bắc, nhưng việc sản xuất còn manh mún và chưa có quy hoạch cụ thể. Nuôi cấy in vitro được kỳ vọng sẽ giải quyết vấn đề này bằng cách cung cấp nguồn giống chất lượng cao.

II. Phương pháp nghiên cứu và kết quả

Nghiên cứu tập trung vào việc tối ưu hóa các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nuôi cấy in vitro của tam thất gừng. Các yếu tố được khảo sát bao gồm thời gian khử trùng, phương pháp cắt mẫu, và nồng độ các chất kích thích sinh trưởng như BA, NAA, và TDZ. Kết quả cho thấy, thời gian khử trùng tối ưu là 10 phút với HgCl2 0,1%, và nồng độ BA 2 mg/L kết hợp với NAA 0,5 mg/L mang lại hiệu quả cao nhất trong việc cảm ứng chồi.

2.1. Ảnh hưởng của thời gian khử trùng

Thời gian khử trùng bằng HgCl2 0,1% có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng vô trùng mẫu. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, thời gian khử trùng 10 phút giúp đạt tỷ lệ vô trùng cao nhất (95%), trong khi thời gian ngắn hơn hoặc dài hơn đều làm giảm hiệu quả.

2.2. Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng

Các chất kích thích sinh trưởng như BA, NAA, và TDZ đóng vai trò quan trọng trong quá trình cảm ứng và nhân nhanh chồi. Kết quả cho thấy, sự kết hợp giữa BA 2 mg/LNAA 0,5 mg/L mang lại hiệu quả cao nhất, với tỷ lệ tái sinh chồi đạt 85%.

III. Ý nghĩa và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện quy trình nhân giống tam thất gừng bằng phương pháp nuôi cấy in vitro. Kết quả nghiên cứu không chỉ cung cấp tài liệu tham khảo cho sinh viên và nhà nghiên cứu mà còn góp phần vào việc bảo tồn và phát triển loài cây dược liệu quý này. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu bao gồm việc sản xuất cây giống chất lượng cao, phục vụ cho nhu cầu thị trường và góp phần xóa đói giảm nghèo ở các vùng miền núi.

3.1. Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu đã góp phần hoàn thiện quy trình nuôi cấy in vitro cho tam thất gừng, cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực nhân giống cây dược liệu.

3.2. Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trực tiếp vào việc sản xuất cây giống, giúp tăng năng suất và chất lượng cây trồng, đồng thời góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế địa phương.

09/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Tam thất gừng (tên khoa học là Stahlianthus thorelii Gagnep) hay Khương tam thất, phân bố ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, phía Nam Trung Quốc và Ấn Độ có độ cao từ 1200 - 1500m. Ở Việt Nam, tam thất được trồng ở một số tỉnh với một lượng nhỏ như: Hà Giang, Lào Cai, Cao Bằng…. Trong đó, tam thất gừng là một loài thuộc họ gừng (Zingiberaceae) mang những đặc điểm chung của họ gừng. đồng thời, tam thất gừng còn có những đặc điểm riêng biệt: Cây có nhiều củ nhỏ bằng quả trứng chim xếp thành chuỗi, có rễ con dạng sợi, lá mọc rời từ 3 - 5 cái, phiến lá thuôn dài, chóp nhọn, màu lục, pha nâu hay nâu tím [8],[24].

Tam thất gừng là một loại thảo dược có giá trị cao chứa thành phần chủ yếu là tinh dầu, chúng được có mặt trong nhiều loại cây dược liệu như: Gừng gió, nghệ, nghệ đen,… [32],[40],[41]. Ngoài ra còn chứa một số acid amin thiết yếu (leucin, isoleucin, valin, histidin,…) và các chất vô cơ như Fe, Ca [25]. Tam thất gừng có vị cay, hơi đắng, tính ấm nên trong dân gian người ta sử dụng để chữa đòn ngã sưng đau, phong nhức xương khớp, thổ huyết, chảy máu cam, kinh nguyệt không ổn định, trùng độc cắn và rắn cắn,…[5],[25]. Hiện nay trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng nhu cầu sản xuất thuốc từ dược liệu ngày càng lớn dẫn đến tình trạng khai thác quá mức nguồn dược liệu trong tự nhiên.

Việc nuôi trồng cây tam thất chủ yếu là tự phát chưa có kế hoạch tổng thể và quy hoạch vùng sản xuất [10]. Trong đó, phương pháp nuôi trồng cây tam thất gừng chủ yếu hiện nay là giâm hom chồi củ hoặc gieo từ hạt. Số lượng cây giống được tạo ra từ phương pháp này còn hạn chế, khả năng nhân lên còn thấp và phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh [10]. Nuôi cấy in vitro được xem như là phương pháp hiệu quả cao trong nhân giống và cải thiện các loài thực vật, trong đó bao gồm cả cây tam thất gừng.

Vì vậy, hiện nay công tác nghiên cứu đặc điểm hình thái, tách chiết hợp chất có ích và nhân giống để góp phần xóa đói giảm nghèo vùng cao, duy trì đa dạng sinh học và phát triển cây dược liệu đang được tập trung nghiên cứu như nghiên cứu của Đỗ Tất Lợi, 2004 [14], Đặng Ngọc Hùng, 2013 [10], Trần Thị Tý và cs n 2 (2013)[23], Nayak S. Trên đây là cơ sở để chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu nhân giống tam thất gừng (Stahlianthus thorelii Gagnep) bằng nuôi cấy in vitro”. Mục đích nghiên cứu Bước đầu khảo sát ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng tái sinh cây tam thất gừng ở Việt Nam. Yêu cầu của đề tài - Xác định được ảnh hưởng của thời gian khử trùng bằng 0,1%đến khả năng vô trùng mẫu.

- Xác định được ảnh hưởng của phương pháp cắt mẫu đến khả năng tái sinh chồi. - Xác định được ảnh hưởng của BA đến khả năng cảm ứng chồi. - Xác định được ảnh hưởng của một số chất kích thích sinh trưởng (BA, kinetin, NAA và TDZ) đến khả năng nhân nhanh chồi. + Xác định được ảnh hưởng của BA kết hợp với NAA đến khả năng nhân nhanh chồi.

+ Xác định được ảnh hưởng của BA kết hợp NAA và kinetin đến khả năng nhân nhanh chồi. +Xác định được ảnh hưởng của BA kết hợp với NAA và TDZ đến khả năng nhân nhanh chồi. - Xác định được ảnh hưởng của GA3 đến khả năng kéo dài chồi sau khi tái sinh từ củ. - Xác định được ảnh hưởng của giá thể đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây con in vitro.

Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa khoa học: + Bước đầu hoàn thiện quy trình nuôi cấy mô cây tam thất gừng bằng phương pháp in vitro. n 3 + Cung cấp tài liệu học tập và nghiên cứu cho sinh viên, giúp sinh viên hoàn thiện về cả kiến thức lý thuyết lẫn thực tiễn. - Ý nghĩa thực tiễn: Thông qua kết quả nghiên cứu của đề tài xác định được một số yếu tố đến tái sinh tạo cây tam thấtgừngin vitro hoàn chỉnh phục vụ cho công tác nhân giống, duy trìvà phát triển tam thất gừng, một cây dược liệu có giá trị. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.

Giới thiệu về tam thất gừng 2. Nguồn gốc và phân loại 2. Nguồn gốc Họ gừng (Zingiberaceae) có nhiều chi và gồm nhiều loài khác nhau. Hầu hết các cây thuộc họ gừng được phát hiện chủ yếu ở các nước Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản [13].

Phân loại Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến đã tổng kết họ gừng gồm 45 chi và hơn 1300 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Riêng ở Việt Nam hiện có 12 chi và 61 loài [2],[3]. Theo Hoàng Thị Sản (2011)[17]thì tam thất gừng được phân loại như sau: Giới (Regnum): Plantae Ngành (Phylum): Magnoliophyta Lớp (Class): Liliopsida Bộ (Ordo): Zingiberales Họ (Family): Zingiberaceae Chi (Genus): Stahlianthus Loài (Species): Stahlianthus thorelii Gagnep Các cây thuộc họ gừng có đặc điểm thực vật học chung là: Dạng thân cỏ sống lâu năm nhờ thân rễ to, phân nhánh. Lá xếp so le đối xứng trên thân, phiến lá thuôn dài hoặc hình trứng, các bẹ lá có thể xếp khít nhau thành một thân giả.

Cả thân và lá đều có mùi thơm do tế bào tiết tinh dầu rải rác trong mô. Cụm hoa gié hay chùm ở trên thân hoặc mọc từ gốc với nhiều lá bắc úp vào nhau. Cây địa liền và tam thất gừng cụm hoa mọc trên thân ngay sát mặt đất. Cánh hoa hình ống dạng mảnh, màu trắng, vàng hoặc hồng.

Quả nang, quả mọng hiếm gặp. Hạt có nội nhũ và ngoại nhũ [1],[17]. Đặc điểm hình ình thái tam thất th gừng 2. Thân rễ ảo không có thân sống Cây thảo s lâu ừ 15 - 20cm thường năm, thân rễ cao từ sống nơi đất ẩm, dưới ới tán cây hay tán rừng.

Thân rễễ to, nạc, ạc, nằm nằ ngang, chứa ự trữ, nhiều chất dự ữ, có khi rất r ngắn hoặc chỉ mang hoa. Thân được đ tạo thành do ặ lấy các bẹ lá ôm chặt ấy nhau th thành thân giả không phân nhánh. Thân rễ r mang nhiều củ nhỏ bằngg quả qu trứng chim xếp thành chuỗi, củ rễ hình ình tròn thuôn một m đầu, mặt ngoài ài màu vàng nhạt, nh trong có Hình 2. Hình ảnh khái quát về v tam chất bột màu trắng ngàà [4], [8].

ất gừng thất gừ [4] 2. Lá ất gừng Lá cây tam thất gừ là lá đơn, mọc cách từ 3 - 5 cái. Lá xếp x thành 2 ên trên, đôi khi hàng thường hướng lên ư song song với nằm ngang gần như v mặt đất. Bẹ lá mở ở đến đế gốc, phần ờng ôm chặt dưới bẹ lá thường ch lấy nhau ả.

Cuống làm thành thân giả. Cuố lá dài, có khi dài tới 25 cm, hình ình lòng máng sâu. Phiến lá nguyên ên thân dài, d hình ục pha nâu hay nâu mác, màu lục, lục ờng phiến tím. Thông thường phi lá màu xanh nhưng đôi khi mặt m lá có đốm trắng loang lổổ [4], [8].

Tam thất th gừng n 6 2. Hoa Cụm hoa dạng bầu mọc trên thân sát mặt đất, tách biệt với thân có lá hoặc từ giữa bẹ lá, được bao bởi 1 lá bắc dạng hình chuông, thường không phân nhánh. Cuống hoa mọc từ thân rễ dài từ 6 - 8cm, ở phía cuối được bao phủ bởicác bẹ lá có 1 lá bắc hình ngón tay dài từ 3 - 3,5cm, phân 2 thùy ở đầu, trong có 4 - 5 hoa không cuống, hình ống, cánh môi xẻ nông, màu trắng pha tím. Tràng hoa màu trắng, bầu nhẵn [4],[8].

Phân bố Tam thất gừng thường sống ở những nơi đất ẩm, dưới tán cây hay tán rừng nguyên sinh, rậm thường xanh, nhiệt đới, ven bờ suối, hốc khe rải rác thành từng nhóm sinh trưởng trên đất ẩm giàu mùn và lá cây rụng [4],[8]. Ở Việt Nam, tam thất gừng có phổ phân bố khá rộng bao gồm các tỉnh phía Bắc như: Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Hòa Bình, Cao Bằng…và một số tỉnh phía Nam như: Kom Tum, Đắk Lăk, Lâm Đồng,…[4],[14]. Trên thế giới: Trung Quốc, Ấn Độ, Lào, Thái Lan, Myanmar, Cam-pu-chia, Ma-lay-xi-a, In-đô-nê-xi-a [14]. Giá trị của tam thất gừng 2.

Giá trị kinh tế Nhờ có giá trị dược liệu nên tam thất gừng đã được nuôi trồng và bán trên thị trường. Một số đơn thuốc dân gian có tam thất gừng như Lê Trần Đức (1997)[8], Đỗ Tất Lợi (2004)[14]: - Chữa đau bụng kinh, ra kinh nguyệt quá nhiều, đau nhức mình mẩy sau khi sinh + Tam thất gừng ngày dùng 6 - 10g, sử dụng dưới dạng thuốc sắc, bột mịn hoặc ngâm rượu. + Tam thất gừng, hồi đầu, lượng bằng nhau, tán nhỏ. Lần uống 2 – 3g với nước đun sôi để nguội, ngày 2 - 3 lần, uống 5 - 7 ngày.

- Chữa các vết bầm tím do máu ứ: Ngày uống 3 lần bột tam thất gừng, mỗi lần 2 – 3g, cách nhau 6 - 8h, hòa với nước ấm. n 7 - Chữa đau thắt lưng: Bột tam thất gừng và bột hồng sâm lượng bằng nhau trộn đều, ngày uống 4g, chia làm 2 lần (cách nhau 12h), hòa với nước ấm. Thuốc cũng có tác dụng bồi bổ sức khỏe cho người suy nhược thần kinh, phụ nữ sau khi sinh và người mới ốm dậy. Hiện nay, đứng trước nguy cơ suy giảm nguồn dược liệu và nhu cầu sản xuất thuốc từ dược liệu ngày càng tăng trên thế giới, nhà nước ta đã đề ra các biện pháp nhằm duy trì, bảo tồn, hạn chế việc nhập khẩu nguồn dược liệu bằng cách xây dựng những mô hình nuôi trồng cây dược liệu phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo bền vững cho những đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa [9].

Giá trị dược liệu Tam thất gừng là một loại thảo dược có giá trị cao chứa thành phần chính là tinh dầu, một số acid amin thiết yếu (leucin, isoleucin, valin, histindin,.), các chất vô cơ như Fe, Ca [25]. Tam thất gừng có vị cay, hơi đắng, tính ấm nên trong dân gian người ta sử dụng để chữa đòn ngã sưng đau; phong thấp đau nhức xương; thổ huyết, chảy máu cam; kinh nguyệt không ổn định; trùng độc cắn và rắn cắn;… [5],[25]. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu trên thế giới và Việt Nam 2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu trên thế giới Nhu cầu sử dụng thuốc cho điều trị bệnh trên thế giới ngày càng tăng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu nhân giống tam thất gừng Stahlianthus thorelii Gagnep bằng phương pháp nuôi cấy in vitro là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy mô để nhân giống loài cây dược liệu quý này. Phương pháp in vitro được đánh giá cao nhờ khả năng tạo ra số lượng lớn cây con đồng đều, chất lượng, đồng thời bảo tồn nguồn gen quý hiếm. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp quy trình chi tiết mà còn mở ra hướng phát triển bền vững cho ngành dược liệu, đặc biệt là trong bối cảnh nguồn tài nguyên tự nhiên đang dần cạn kiệt.

Để hiểu rõ hơn về các phương pháp nhân giống hiện đại, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu nhân giống cây chuối đỏ dacca musa acuminata bằng kỹ thuật nuôi cấy in vitro, nơi kỹ thuật in vitro cũng được áp dụng để nhân giống cây trồng. Ngoài ra, Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu nhân giống cây sói rừng sarcandra glabra thunb nakai bằng kỹ thuật nuôi cấy in vitro cũng là một tài liệu hữu ích, giúp bạn khám phá thêm về ứng dụng của kỹ thuật này trong việc bảo tồn và phát triển các loài cây dược liệu. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ nghiên cứu tạo dòng lan dendrobium thấp cây triển vọng bằng phương pháp lai hữu tính kết hợp chiếu xạ và nuôi cấy in vitro sẽ mang đến góc nhìn đa chiều về việc kết hợp các phương pháp hiện đại để tạo ra giống cây chất lượng cao.