Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương này giới thiệu tông quan về cơ sở dữ liệu VSL và tình hình nghiên cứu. Những kiến thức cơ bản này là tiền dé dé áp dụng vào việc xây dựng mô hình nhận dạng ngôn ngữ ký hiệu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương này giới thiệu lý thuyết về MediaPipe Holistic và mô hình LSTM. Chương 3: Mô hình nhận đạng ngôn ngữ ký hiệu Chương nay vận dụng những kiến thức đã dé cập ở chương một và chương hai dé xây dựng mô hình nhận dạng ngôn ngữ ký hiệu.
Chương 4: Thực nghiệm và đánh giá Chương này phân tích và đánh giá kết quả mô hình đề xuất. Chương 5: Kết luận và hướng phát triển Chương này tông kết lại các kết quả mà luận văn đã dat. Sau đó, dé xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo nhằm nâng cao độ chính xác của bài toán nhận dang ngôn ngữ ký hiệu. CHUONG I TONG QUAN TINH HINH NGHIEN CUU 1.
Tổng quan về ngôn ngữ ký hiệu ở Việt Nam “Ngôn ngữ ký hiệu hay ngôn ngữ dấu hiệu, thủ ngữ là ngôn ngữ dùng những biểu hiện của bàn tay thay cho âm thanh của tiếng nói. Ngôn ngữ ký hiệu do người khiếm thính tạo ra nhằm giúp họ có thê giao tiếp với nhau trong cộng đồng của mình và tiếp thu tri thức của xã hội. Chúng ta thường hay quan niệm rằng ngôn ngữ ký hiệu là một ngôn ngữ quốc tế. Thực tế không phải vay, mỗi quốc gia có thể có một hoặc nhiều cách khác nhau để mô tả ký hiệu ngôn ngữ.
O Việt Nam, ngôn ngữ ký hiệu đã được đưa vào giáo dục và sử dụng từ rất sớm. “Nhung do trước đây chưa có nhà khoa học nào tìm hiểu, nghiên cứu về nó nên người Việt Nam không nghĩ và đã không xem những dấu hiệu mà người điếc sử dụng là ngôn ngữ. Họ cho rằng đó chỉ là những điệu bộ khua tay của người điếc dé cd gắng giao tiếp do thiểu ngôn ngữ. Mãi đến năm 1996, một tiến sĩ ngôn ngữ học người Mỹ là James C.
Woodward người đã từng làm việc với William Stokoe tại trường đại học Gallaudet của Mỹ, đã sang Việt Nam thực hiện nghiên cứu về ngôn ngữ ký hiệu của cộng đồng người điếc ở Việt Nam.” [1] Từ những nam 2000, Việt Nam bat đầu triển khai những nỗ lực của mình nhằm hoàn thiện và hệ thống hóa VSL. Các cau lạc bộ, nhóm học tập bắt đầu hình thành và phát triển. Tuy nhiên do ảnh hưởng bởi văn hóa, đặc trưng của từng vùng miễn khác nhau nên dẫn đến sự phân loại trong việc thé hiện biéu điển ngôn ngữ ký hiệu khác nhau. Nỗi trội nhất là ngôn ngữ ký hiệu ở Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Hà Nội, Hải Phòng.
Bên cạnh đó, đã có thêm nhiều dự án được thực hiện dé chuẩn hoá ngôn ngữ ký hiệu nhăm xây dựng nên hệ thống ngôn ngữ kí hiệu hoàn chỉnh và thống nhất. Hiện nay, các tài liệu đã được đưa vào sử dụng cho người khiếm thính ở Việt Nam như là bộ ba tập Ký hiệu cho người khiém thính Việt Nam, Từ điển ngôn ngữ ký hiệu Việt Nam. Bảng chữ cái của VSL cũng tương ứng với bảng chữ cái của ngôn ngữ viết bao gôm 29 chữ cái, các chữ ghép và dấu thanh. Bảng chữ cái của VSL được xây dựng tương tự với bảng chữ cái của ASL (American Sign Languague).
Tuy nhiên, do mang tính chất đặc trưng về văn hóa của dat nước, —_ |Horn J Breve 5 Krarea ` camdstrp Oecrtic Marks ^- ø!s BOSS VY BSS TS “" | d saaw vows ý yw hư,| SS. ~ ầ ý | or CÁ VU BF 9g ! 2z 3 4 5 6 7 £ 93 | |HœkÖjAdưte Grove Sine |ưnderda ‹ Hình 1. Bảng chữ cái của ASL [2] và bảng chữ cái của VSL [3]. Việc giao tiếp bằng ngôn ngữ ký hiệu rất đa dạng, không chỉ liên quan đến ngôn ngữ ở bàn tay mà còn liên quan đến cử chỉ, điệu bộ, nét mặt.
Tất cả các ngữ nghĩa của ngôn ngữ ký hiệu thường được cau thành từ 5 thành t6 cơ bản (Hình 1. Vị trí làm kí hiệu Các thành tổ của một kí hiệu Hình 1. Năm thành tố của một ký hiệu [4]. Từ những đặc điểm khác biệt trong việc cau tạo từ của VSL đã chứng tỏ rằng VSL là một ngôn ngữ đích thực, có ngữ pháp riêng, độc lập với tiếng Việt.
VSL đã trở thành một hệ thống các tín hiệu cần thiết và quan trọng nhất dé đáp ứng nhu cầu giao tiếp và tư duy logic của người khiếm thính, trở thành ngôn ngữ mẹ đẻ, ngôn ngữ thứ nhất của người khiếm thính. Những nghiên cứu liên quan Ngày nay, nhờ sự phát triển của khoa học và công nghệ mà việc xây dựng—những ứng dụng nhận dạng ngôn ngữ ký hiệu ngày càng được quan tâm. Hầu hết những nghiên cứu nhận dang ngôn ngữ ký hiệu thường chia làm hai loại là dựa trên dữ liệu cảm biến và dựa trên thị giác máy tính. Phương pháp dựa trên dữ liệu cảm biến Dữ liệu cảm biến được thu thập từ hoạt động mô tả các từ ngôn ngữ ký hiệu của người thực hiện khi sử dụng một hoặc một số thiết bị cảm biến.
Mô hình bao gdm một máy xử lý dữ liệu, một hệ vi điều khiển thu thập dữ liệu, hệ thong man hinh hién thi va thiét bi cam bién. Trong đó, các thiết bị cảm biến được trang bị cho khả năng lọc nhiễu và yếu tố phức tạp của môi trường. Chính vì vậy, việc tiền xử lý của dữ liệu trở nên đơn giản hóa. Trong cách tiếp cận này, tín hiệu từ các thiết bị cảm biến sẽ truyền tải đến một thiết bị từ xa dé xử lý nhận dạng.
Vào năm 2009, việc ra đời của Microsoft Kinect đã mờ ra một hướng nghiên cứu mới trong bài toán nhận dạng ngôn ngữ cử chỉ. Với giá thành vừa phải. khả năng ứng dụng của thiết bị vào ứng dụng của rat khả thi. Do đó, đã có rất nhiều nghiên cứu nhận dạng ngôn ngữ ký hiệu sử dụng thiết bị Microsoft Kinect.
Điền hình là nghiên cứu của Z. Zafrulla và cộng sự [5]. nhóm tác giả đã so sánh hệ thông dựa trên Kinect và hệ thông CopyCat của họ dựa trên bộ dữ liệu 1000 cụm từ trong ASL dé minh chứng cho thấy Kinect là một lựa chọn khả thi đê xác minh ký hiệu. Bởi vì, hệ thống sử dụng Kinect mang đến tỷ lệ xác minh câu là 51.5% đối với những dữ liệu mà người dùng ngồi và 76.12% đối với những dữ liệu mà người đứng.
trong khi đó, khi sử dụng hệ thống CopyCat chỉ mang lại tỷ lệ xác minh ở những dữ liệu ngồi là 74. Trong nhận dang VSL, P. Hai và cộng sự [3] da dé xuất một cách tiếp cận tự động dé trích xuất các đặc trưng của ngôn ngữ ký hiệu tiếng Việt trong phân loại các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt. Bộ dữ liệu được nghiên cứu gồm các hình ảnh chiều sâu, hình ảnh RGB và bản đồ khớp xương.
Nhờ vào thiết bị Kinect phiên bản 1, hệ thông của nhóm tác giả đề xuất đã tự động trích xuất cử chỉ tay của người được quan sát. Các cử chỉ tay bao gồm cả dấu phụ động và tĩnh đều có thẻ được nhận dạng nhờ phương pháp phát hiện chuyên động. Trong giai đoạn nhận dạng, tất cả các cử chỉ tay được trích xuất, chuân hóa và sau đó được lọc ra dựa trên sự khác biệt về khoảng cách Euclide của các vị trí tay trong các khung hình được chụp dé đi qua các Support Vector Machines (SVM) chính xác. Kết quả thử nghiệm chứng minh hệ thong mà nhóm tác giả đề xuất đã nhận dạng VSL trong thời gian thực với độ chính xác cao.
Mặc dù các phương pháp tiếp cận này đạt độ chính xác cao dựa trên thiết bị cảm biến nhưng hệ thông trở nên bất tiện hơn khi người thực hiện phải tốn tiền dé trang bị thiết bị cảm biến hoặc đeo nhiều thiết bị cảm biến. Phương pháp dựa trên thị giác máy tính Thị giác máy tính có nhiều ứng dụng trong thực tế như điều khién tự động, mô phỏng chuyền động, đặc biệt nó cũng được áp dụng trong việc nghiên cứu vẻ ngôn ngữ ký hiệu. Nhận biết ngôn ngữ ký hiệu qua ảnh đã được nghiên cứu và phát trién từ rất sớm và đạt được những kết quả tốt va đầy khả quan. Trong phương pháp này sẽ sử dụng những camera dé ghi lai dữ liệu đầu vào.
Do được ghi hình bằng những máy thu hình cho nên giảm chỉ phí giá thành trong việc không cần trang bị thiết bị cảm biến. Hơn thé, hiện nay, các 10 thiết bị thu hình hầu như đều là thiết bị với độ phân giải cao. trở thành một tiềm năng lớn cho đữ liệu đầu vào cho hệ thống. Vì thế, cách tiếp cận này khiến cho hệ thống nhận dạng ngôn ngữ ký hiệu trở nên tự nhiên và thuận tiện trong sử dụng.
Do những lợi ích được đề cập, nhiều nhà nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu và đề xuất nhận dạng ngôn ngữ ký hiệu dựa trên thị giác máy tính. Trọng tâm bài báo của tác gia K. Bantupalli va cộng sự [6] là sử dung bộ dữ liệu ASL để tạo ra một ứng cung cấp bản dịch ngôn ngữ ký hiệu sang văn bản, từ đó hỗ trợ giao tiếp giữa người sử dụng ngôn ngữ ký hiệu và người không ngôn ngữ ký hiệu. Mô hình ma bài báo dé xuất gồm hai phần chính CNN và RNN.
Đầu tiên, nhóm tác giả lấy các chuỗi video và trích xuất các đặc điểm không gian và thời gian từ các chuỗi video đó. Sau đó, họ sử dụng Inception của mô hình CNN dé nhận dang các đặc điểm không gian. Từ kết quả thu được từ mô hình CNN để vào mô hình RNN, mục đích là dùng dé dao tạo về các tinh năng tạm thời. Vo và các cộng sự [7] đã đóng góp bộ dữ liệu gồm 24 chữ cái, 3 dau phụ âm, và 5 âm của tiếng Việt.
Bộ dữ liệu nay được nhóm tác giả thu thập chi sử dụng camera 2D. Ngoài ra, nhóm tác giả sử dụng diém đặc trưng (local features), gồm ba loại là đặc trưng không gian (spatial features), đặc trưng dựa trên cảnh (scene-based feature) và đặc trưng chuyển động (motion-based feature). Trong đó, đặc trưng không gian và đặc trưng dựa trên cảnh được coi là đặc trưng dựa trên một khung hình vì chúng được trích xuất từ một khung hình duy nhất của chuỗi video đầu vào. Còn đặc trưng chuyền động được coi là đặc trưng dựa trên chuyển động của nhiều khung hình và phải được tính toán từ nhiều chuỗi video đầu vào.
Độ chính xác đạt được khi sử dụng phương pháp của nhóm tác giả đề cử là 86.