CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Ngữ liệu và ngữ liệu song ngữ Trong một bài Nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu ngôn ngữ nói riếng thì không thể phủ nhận vai trò quan trọng của thao tác làm việc trên ngữ liệu. Việc tìm kiếm, thu thập và nghiên cứu ngữ liệu phục vụ các đề tài nghiên cứu khoa học phải đạt các yêu cầu sau: - Tầm tham khảo đủ rộng để bao quát phạm vi nghiên cứu; - Mức độ tham khảo đủ sâu, tương ứng với cấp độ nghiên cứu; - Thông tin có chọn lọc sao cho phù hợp với một đề tài khoa học. - Thông tin tương đối cập nhật để đánh giá vấn đề khách quan, kịp thời, không bị lạc hậu với dòng thông tin chuyên ngành (Trung tâm Thông tin Phát triển Việt Nam (2010),“ Kỹ năng trích dẫn và lập danh mục tài liệu tham khảo”) Xét riêng về ngữ liệu song ngữ và ngữ liệu đa ngữ được dùng để đối chiếu các ngôn ngữ thì có những cơ sở lý thuyết như sau: Theo từ điển Việt – Việt (2010) thì: “ Ngữ liệu là tư liệu ngôn ngữ được dùng làm căn cứ để nghiên cứu ngôn ngữ” Theo Hoàng Như Quỳnh (2011), Nghiên cứu xây dựng kho ngữ liệu song ngữ phục vụ xử lý tiếng Việt, Luận văn chuyên ngành kỹ thuật, Trường Đại học Đà Nẵng thì: “ Ngữ liệu là những dữ liệu, cứ liệu của ngôn ngữ, tức là những chứng cứ thực tế sử dụng ngôn ngữ.
Những chứng cứ sử dụng ngôn ngữ này có thể là của ngôn ngữ nói mà cũng có thể là ngôn ngữ viết. Trong đó ngữ liệu tồn tại dưới dạng ngôn ngữ viết bao gồm nhiều hình thức khác nhau như: dạng giấy, dạng điện tử. Ngữ liệu chỉ gồm các văn bản của một ngôn ngữ gọi là ngữ liệu đơn ngữ và ngữ liệu của nhiều ngôn ngữ gọi là ngữ liệu đa ngữ. Nghiên cứu này tập trung đề cập đến ngữ liệu đa ngữ.
Trong ngữ liệu đa ngữ, nếu ngữ liệu của ngôn ngữ này là bản dịch của ngôn ngữ kia gọi là ngữ liệu song ngữ” (Trang 3) Ngữ liệu song ngữ thô (chưa qua xử lý) có thể được xây dựng bằng 3 cách chính: (1) Thu thập tự động từ các website song ngữ (2) Thu thập từ các ấn phẩm song ngữ (dạng điện tử) (3) Dịch thủ công, dịch song song 1-1 theo hướng dẫn (guideline) từ các văn bản nguồn có chất lượng và đúng lĩnh vực, niên đại. 4 Trong ngữ liệu song ngữ, các bản dịch tương ứng của mỗi ngôn ngữ phải được đặt song song với nhau hay còn được gọi là gióng hàng với nhau (alignment). Mức độ gióng hàng này có thể ở cấp độ văn bản (text alignment), nghĩa là từng văn bản trong ngôn ngữ nguồn được gióng (liên kết) với văn bản dịch tương ứng trong ngôn ngữ đích. Tương tự cho cấp độ đoạn (paragraph alignment), cấp độ câu (sentence alignment), cấp độ ngữ (phrase alignment) và sâu nhất là cấp độ từ (word alignment).
“Ngữ liệu song song có thể gồm hai ngôn ngữ hoặc nhiều hơn hai ngôn ngữ”. Cụ thể trong nghiên cứu này là hai ngôn ngữ Nhật – Việt. Với từng cấp độ gióng hàng ở ngữ liệu song ngữ trên đây thì với đối tượng là sinh viên năm thứ 3 Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Nhật Bản trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế, chúng tôi tập trung vào mức độ gióng hàng ở cấp độ văn bản hay còn gọi là đối chiếu bản dịch. Ngữ liệu “tương đương” Trong các dạng bài tập thực hành và đối chiếu ngôn ngữ thì ngữ liệu song song chỉ là một phần trong các dạng ngữ liệu đa ngữ mà giảng viên và sinh viên cần phải thu thập và tiến hành phân tích.
Còn có một dạng ngữ liệu “tương đối” tức là ngữ liệu Nhật – Việt “ tương đương” theo các cấp độ ngôn ngữ ứng với từng yêu cầu của đề tài. Ngữ liệu “tương đương” còn có thể mở rộng là “tương đương” về độ khó cuả văn bản. Chẳng hạn: Khi đối chiếu một đoạn trích có nhiều câu phức thì sinh viên phải tập trung ở các đoạn trích ở trình độ tiếng Nhật trung, cao cấp (N1, N2) chứ không thể lấy ngữ liệu có độ chênh về kiến thức như văn bản trong quyển “ Tiếng Nhật cho mọi người” – Trình độ sơ cấp và ở ngữ liệu Tiếng Việt cũng là những đoạn trích trong văn học, pháp luật, khoa học vì có thể tập trung nhiều dạng câu khác nhau. Ví dụ: Khi có một bài tập : “ Đối chiếu câu đơn Nhật – Việt theo mục đích giao tiếp” thì một ngữ liệu gọi là “tương đương” về kiến thức phải đáp ứng các tiêu chí sau: Tiêu chí Ngữ liệu tiếng Nhật Ngữ liệu tiếng Việt Dạng và cấp Chủ yếu là hội thoại nhưng cấp độ trung Hội thoại trích đoạn trong độ cao cấp văn học Yêu cầu của Đầy đủ một số dạng câu theo mục đích Đầy đủ một số dạng câu đề tài giao tiếp như: hỏi, cầu khiến, cảm theo mục đích giao tiếp như: thán… hỏi, cầu khiến, cảm thán… 5 Dưới đây là hai ngữ liệu đáp ứng tiêu chí “tương đương” kể trên vì đáp ứng được tiêu chí về độ khó của văn bản (Hội thoại trung –cao cấp N2) và tác phẩm văn học Việt Nam và cả hai ngữ liệu đều có đầy đủ các dạng câu theo mục đích nói Ngữ liệu tiếng Nhật Ngữ liệu tiếng Việt 学生 3 人が、フルでかいけいがかり Chí Phèo đấy hở ? Lè bè vừa thôi chứ! 女 1: 新しい会計係、決めなきゃいけ Rồi ném bẹt năm hào xuống đất, cụ bảo hắn: ないね。 - Cầm lấy mà cút đi cho rảnh.
Rồi làm 女 2: そうね、どうやって決める? mà ăn chứ cứ báo người ta mãi à? 男 : やりたい人にやってもらえばい Hắn trợn mắt chỉ tay vào mặt cụ: いんじゃない? - Tao không đến đây xin năm hào. 女 1: やりたい人っていったって、そ Thấy hắn toan làm dữ cụ đành dịu giọng: んな人いるかなあ。大変 な仕事だし - Thôi, cầm lấy vậy, tôi không còn hơn. 女 2: そうよね、くじ引きにする? Hắn vênh cái mặt lên, rất kiêu ngạo: 男 : えー! それで、もしおれになった - Không. Tao đã bảo là tao không đòi tiền.
ら困るよー。 -Giỏi! Hôm nay mới thấy anh không đòi 女 2: そうよねー、上田君には任せら tiền. Thế anh cần gì? れないよねー。 Hắn dõng dạc: 女 1: 前に、名簿 順でやろうって決め - Tao muốn làm người lương thiện! たよね。でも、伊藤さんになってか Bá Kiến cười ha hả: ら、ずっと彼女がやるって言ってくれ - Ôi tưởng gì! Tôi chỉ cần anh lương て.。やっぱり、名簿順っていうのが thiện cho thiên hạ nhờ. いいん じゃない? Hắn lắc đầu: 女 2: そうね.それが一番公平かも。 - Không được! Ai cho tao lương thiện? 女 1: でしょ。 「 あのさー、伊藤さ Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể んの次って、おれなんだけど.。 là người lương thiện nữa. Biết không? 女 2:ハハハハ。がんばれ! Chỉ có một cách.
biết không! Chỉ có [「日本語能力試験」対策 日本語総ま một cách là. cái này biết không? とめ N2(聴解) (Trích Chí Phèo– Nam Cao) 6 Phân tích ngữ liệu dựa theo tiêu chí về ngữ liệu “tương đương” kể trên Tiêu chí Ngữ liệu tiếng Nhật Ngữ liệu tiếng Việt Dạng và Hội thoại trung cao cấp trích trong: Hội thoại trích đoạn trong văn cấp độ Luyện nghe năng lực Nhật ngữ (N2) học – Tác phẩm “ Chí Phèo” – Nam Cao Yêu cầu của Đầy đủ một số dạng câu theo mục Đầy đủ một số dạng câu theo đề tài đích giao tiếp như: hỏi, cầu khiến, mục đích giao tiếp như: hỏi, cảm thán… cầu khiến, cảm thán… 学生 3 人が、フルでかいけいがか Chí Phèo đấy hở ? (hỏi - xác り nhận thông tin) Lè bè vừa thôi chứ!(cảm thán 女 1: 新しい、決めなきゃいけな – phàn nàn) いね= 決めなければいけない(cảm Rồi ném bẹt năm hào xuống thán – ý chí) đất, cụ bảo hắn: 女 2: そうね、どうやって決める? - Cầm lấy mà cút đi cho rảnh. (câu hỏi cảm thán) Rồi làm mà ăn chứ cứ báo 男 : やりたい人にやってもらえば người ta mãi à?(câu hỏi tu từ) いいんじゃない? (câu hỏi gợi ý – Hắn trợn mắt chỉ tay vào mặt cảm thán) cụ: - Tao không đến đây xin năm 女 1: や り た い 人 っ て い っ た っ hào. 男 : えー! それで、もしおれになっ Hắn vênh cái mặt lên, rất kiêu たら困るよー。(giả định – cảm thán) ngạo: 女 2: そうよねー、君にはせられ - Không.
Tao đã bảo là tao ないよねー。(Phủ định – cảm thán không đòi tiền - đưa ý kiến) 7 女 1: 前に、 でやろうって決めた よね。でも、 さんになってから、ずっと彼女が. (khẳng định- cảm thán) やるって言ってくれて.。やっぱ - Giỏi!(cảm thán – nhận định, mỉa mai). Hôm nay mới り、名簿 順っ てい うのがい いん thấy anh không đòi tiền. Thế じゃない? anh cần gì?(hỏi – lấy thông 女 2: そうね.それが一番かも。 tin) (Nhận định – cảm thán) Hắn dõng dạc: 女 1: でしょ。 「 あのさー、伊藤 - Tao muốn làm người lương さ ん の 次 っ て 、 お れ な ん だ け thiện! (cảm thán – bày tỏ) ど.。 Bá Kiến cười ha hả: 女 2:ハハハハ。がんばれ!(Mệnh - Ôi tưởng gì! Tôi chỉ cần anh lệnh –động viên) lương thiện cho thiên hạ nhờ.
「日本語能力試験」対策 日本語 Hắn lắc đầu : (Trần thuật) - Không được! (Phủ định – 総まとめ N2(聴解) cảm thán). Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? (Hỏi tu từ)Tao không thể là người lương thiện nữa.Biết không? (Hỏi tu từ) Chỉ có một cách. biết không! (Hỏi tu từ) Chỉ có một cách là. cái này biết không? (Hỏi tu từ) (Trích Chí Phèo– Nam Cao) 8 1.
Các nguồn thu thập ngữ liệu song ngữ Trong quá trình truy tìm ngữ liệu, người nghiên cứu cần khai thác tối đa những nguồn hỗ trợ truy cập thông tin, tài liệu như: thầy cô, các chuyên gia, bạn bè, các thư viện, các đơn vị chuyên ngành, các tổ chức quốc tế, các diễn đàn chuyên môn và các nguồn đáng tin cậy trên mạng,… và quan trọng là phải định hướng ngữ liệu bám sát chủ đề nghiên cứu. Có thể tiếp cận ngữ liệu từ những nguồn cụ thể sau: Thư viện Nhiều thư viện ở Việt Nam hiện nay (Thư viện quốc gia, Thư viện chuyên ngành khoa học, Thư viện đại học,.) chưa có đủ một lượng tài liệu mới dồi dào, phong phú, đáp ứng nhu cầu của đông đảo các nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực, tuy vậy không thể bỏ qua lượng tài liệu tuy cũ nhưng có tính chất kinh điển, căn bản, đã được chọn lọc và tích luỹ trong thời gian dài. Và vẫn có một xác suất không nhỏ có thể tìm thấy những tài liệu thực sự quan trọng cho một đề tài nghiên cứu. Các loại tài liệu lưu trữ ở thư viện bao gồm các tài liệu nguyên cấp như: sách, tạp chí, tài liệu nghe nhìn, các văn bản nhà nước, các luận văn, luận án, v., được sắp xếp và phân loại một cách khoa học, trật tự.
Các trung tâm tài liệu Bên cạnh hệ thống thư viện được tổ chức quy củ, chặt chẽ, các trung tâm tài liệu (của các đơn vị nghiên cứu, các tổ chức chuyên môn,.) có quy mô nhỏ hơn, nhưng bù lại, các tài liệu lưu trữ có tính đặc thù chuyên môn cao, nhất là các tài liệu tập trung về một số chủ đề chuyên biệt.