CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH ĐẬP VẬT LIỆU ĐỊA PHƯƠNG 1.1 Tổng quan về xây dựng đập vật liệu địa phương ở Việt Nam.1 Tình hình xây dựng hồ chứa ở Việt Nam. Việt Nam có 3/4 diện tích đất đai là đồi núi và hệ thống sông suối dày đặc, lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.000mm nhưng phân bố không đều; mùa khô kéo dài khoảng 6 ÷ 7 tháng, lượng mưa chỉ chiếm 15% ÷ 20% tổng lượng mưa cả năm, còn lại 80% ÷ 85% lượng mưa trong 5 ÷ 6 tháng mùa mưa; những đặc điểm trên dẫn đến cần phải xây dựng các hồ chứa để trữ nước trong mùa mưa sử dụng cho mùa khô. Hồ chứa ở Việt Nam là biện pháp công trình đa nhiệm vụ nhưng chủ yếu là để phòng lũ cho các vùng hạ du; cấp nước cho nông nghiệp; công nghiệp; sinh hoạt, phát điện, phát triển du lịch, cải tạo môi trường nuôi trồng thủy sản, phát triển giao thông, thể thao, văn hóa… Theo thời gian, trước năm 1964 việc xây dựng hồ chứa diễn ra chậm, có ít hồ chứa được xây dựng trong giai đoạn này. Sau năm 1964, đặc biệt từ sau giải phóng thì việc xây dựng hồ chứa phát triển mạnh.
Từ năm 1976 đến nay số hồ chứa xây dựng mới chiếm 67%. Không những tốc độ phát triển nhanh, mà cả về quy mô công trình cũng lớn lên không ngừng. Hiện nay, đã có nhiều hồ lớn, đập cao ở những nơi có điều kiện tự nhiên phức tạp. Tính đến ngày 01/04/2014 ở nước ta có 6.648 hồ chứa nước các loại thuộc địa bàn của 45/64 tỉnh thành, trong đó, có gần hơn 100 hồ chứa nước có dung tích trên 10 triệu mét m3, hơn 600 hồ có dung tích từ 1÷10 triệu m3, còn lại là các hồ nhỏ.
Tổng dung tích trữ nước của các hồ là 49,88 tỷ m³, trong đó có 29 hồ chứa thủy điện lớn có dung tích 39,6 tỷ mét khối nước, còn lại các hồ có nhiệm vụ tưới là chính với tổng dung tích 10,28 tỷ m³ nước, bảo đảm tưới cho 803.180 ha đất canh tác [1]. 4 Hiện nay do điều kiện kinh tế xã hội ngày càng phát triển, dân số gia tăng, nhu cầu cấp nước sinh hoạt, chăn nuôi, phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và điện năng tăng cao. Điều kiện khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, lượng mưa có xu hướng tăng trong mùa mưa và giảm mạnh trong mùa khô. Những vấn đề nêu trên đã và đang đặt ra các yêu cầu đối với các hồ chứa là phải tăng dung tích nhằm đáp ứng các thay đổi trên.2 Các nhu cầu về tôn cao đập trong thực tế Mặc dù có số lượng hồ chứa nước lớn nhưng đa phần các hồ chứa đều được xây dựng trong bối cảnh sau: - Điều kiện kinh tế chưa phát triển nên thường phải giảm quy mô công trình để tiết kiệm đầu tư do đó chưa tận dụng hết nguồn nước đến.
- Điều kiện kỹ thuật chưa phát triển, hệ thống tiêu chuẩn chưa hoàn chỉnh nên việc khảo sát, tính toán, thiết kế chưa sát thực, giải pháp kỹ thuật công nghệ xây dựng công trình còn hạn chế nên chưa xây dựng những đập lớn để sử dụng tối đa nguồn nước. - Nhiệm vụ công trình chưa đề cập đến phục vụ đa mục tiêu mà đơn thuần cho tưới hoặc phát điện. - Nhiều công trình nhỏ được đầu tư trong thời gian ngắn để giải quyết yêu cầu cấp thiết về nước tưới tại thời điểm xây dựng nên không đáp ứng đủ cho các nhiệm vụ trong hiện tại và tương lai. - Do chưa đánh giá đúng tốc độ phát triển kinh tế, xã hội trong tương lai nên nhiều công trình được không cung cấp đủ nước khi yêu cầu dùng nước tăng nhanh.
- Sau thời gian dài sử dụng nhiều hồ chứa bị bồi lắng làm giảm dung tích hoặc do biến đổi khí hậu dẫn đến nhiều hồ không đủ nước để tưới như thiết kế. Trong bối cảnh xây dựng các công trình như trên nên việc giải quyết thoả đáng nhiệm vụ chức năng đa mục tiêu: cấp nước, giảm lũ, úng, hạn chưa được đặt ra đúng mức. Hồ chứa sau một thời gian dài sử dụng và chịu tác động của thời tiết nên đã bị xuống cấp. Hiện nay, điều kiện kinh tế xã hội và khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, dân số 5 tăng, nhu cầu cấp nước cho sinh hoạt, chăn nuôi, điện năng tăng cao.
Điều kiện khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, lượng nước có xu hướng tăng trong mùa mưa và giảm trong mùa khô, nhiệt độ tăng làm cho nhiệt độ nước tăng, thúc đẩy quá trình bốc hơi nước nhanh hơn (tăng 7,7%-8,9%) dẫn đến yêu cầu nước dùng cho môi trường, tưới, sinh hoạt. ngày càng cao hơn. Những vấn đề trên đã và đang đặt ra yêu cầu đối với các hồ chứa là cần tăng dung tích để đảm bảo ổn định chống định chống lũ, tăng dung tích phòng lũ, dung tích hữu ích đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu cấp nước, phát điện góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.3 Những đặc điểm hồ chứa nước ở tỉnh Ninh Thuận. Ninh Thuận là tỉnh cực Nam Trung Bộ có tổng diện tích tự nhiên 3.363 km² được bao bọc bởi ba mặt núi và một mặt biển.
Phía Tây là vùng núi cao giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Bắc và phía Nam có hai dãy núi chạy ra biển. Giữa tỉnh và ven biển là vùng đồng bằng khô cằn nên được mệnh danh là miền viễn Tây của Việt Nam. Vùng núi cao chiếm 63,2% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, vùng gò đồi chiếm 15,4% và đồng bằng là 22,4%. Ninh Thuận nằm trong khu vực khô hạn nhất nước, mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa với các đặc trưng là: Khô nóng, gió nhiều, bốc hơi nhanh.
Tuy nhiên trong mùa mưa, mưa lớn tập trung trong thời gian ngắn gây ra lũ lụt, lũ ống, lũ quét và úng ngập nghiêm trọng ở nhiều nơi. Dân số toàn tỉnh Ninh Thuận Tính đến năm 2013 tổng số hồ chứa trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận là 21 hồ chứa với tổng dung tích: 194.000 m³, diện tích được tưới 18. Điển hình như các hồ chứa: hồ Tân Giang, hồ Sông Trâu, hồ sông Sắt, hồ Nước Ngọt, hồ Trà Co…và 05 hồ tiếp theo được cập nhật đến năm 2016 là các hồ chứa: hồ Sông Biêu, hồ Phước Trung, hồ Lanh Ra, hồ Bà Râu, hồ Núi Một và tiếp tục đầu tư xây dựng vào các năm tiếp theo như hồ có dung tích lớn nhất là hồ sông Cái thuộc hệ thống thủy lợi Tân Mỹ tỉnh Ninh Thuận có dung tích 209 triệu m³. Vì vậy có thể nhận thấy được hiện tại diện tích thực tế tưới bằng các công trình hồ chứa đang vận hành chỉ chiếm tỷ trọngg rất nhỏ so với diện tích 78.000 ha đất canh tác nông nghiệp cần tưới của tỉnh Ninh Thuận [2].1: Các hồ chứa được xây dựng cập nhật đến năm 2012.
Năm hoàn TT Tên hồ Huyện Dung tích (106m3) Diện tích tưới (ha) thành 01 Suối Lớn Ninh Phước 1.05 250 1991 03 CK7 Ninh Phước 1.43 100 1999 04 Ông Kinh Ninh Hải 0.83 170 2001 05 Tân Giang Thuận Nam 13.39 3000 2005 06 Sông Trâu Thuận Bắc 31.5 3000 2005 07 Ba Chi Thuận Bắc 0.4 40 2005 08 Ma Trai Thuận Bắc 0.48 30 2005 09 Nước Ngọt Ninh Hải 1.8 208 2006 10 Bầu Ngữ Ninh Phước 1.3 3800 2008 12 Tà Ranh Ninh Phước 1.79 1242 2011 15 Phước Nhơn Bác Ái 0.78 250 2011 16 Bầu Zôn Ninh Phước 1.685 135 2011 17 Bà Râu Thuận Bắc 4.64 300 2012 18 Sông Biêu Thuận Nam 23.8 1200 2012 19 Phước Trung Bác Ái 2.35 270 2012 20 Lanh Ra Ninh Phước 13.88 1050 2012 21 Núi Một Thuận Nam 2.2 1830 2012 Các hồ nước này ngoài nhiệm vụ cung cấp nước cho 18.310 ha đất sản xuất, phục vụ dân sinh và kinh tế thì còn có nhiệm vụ điều tiết lũ bảo vệ vùng hạ du 7 Hình 1-1: Vị trí các hồ chứa ở Ninh Thuận Bảng 1.2: Diện tích tưới thực tế của các hồ năm 2012 [3]. Thông số thiết kế Diện tích tưới thực tế (ha) Năm Wtrữ TT Tên hồ chứa hoàn Flv Ftưới Đông Hè (106 Mùa cộng thành (km2) (ha) xuân thu m³) (1) (2) (4) (5) (6) (7) (8) (9) (10) (11) I Thuận Nam 1 Hồ Tân Giang 2001 149 13,39 3.989 2 Hồ Bầu Ngữ 2007 16,3 1,60 170 120 - 120 240 3 Hồ CK7 1996 17,5 1,43 100,0 100 - - 100 8 Năm Thông số thiết kế Diện tích tưới thực tế (ha) TT Tên hồ chứa hoàn Flv Wtrữ Ftưới Đông Hè Mùa cộng thành (km2) (106 (ha) xuân thu 4 Hồ Suối Lớn 1990 8 1,06 60 95 - 95 190 5 Hồ Sông Biêu 2012 68,7 23,78 1.300 307 - 465 772 6 Hồ Núi Một 2013 30,0 2,25 150 - II Ninh Phước 7 Hồ Bầu Zôn 2012 17,3 1,60 135 135 138 141 414 8 Hồ Lanh Ra 2012 88,0 13,88 1.888 9 Hồ Tà Ranh 2010 12,3 1,22 100,0 100 80 - 180 III Ninh Hải Hồ Suối nước 10 2006 30 1,81 208 80 80 80 240 ngọt 11 Hồ Ông Kinh 1999 6,5 0,83 120,0 52 108 108 268 1991 12 Hồ Thành Sơn và NC 30,0 3,05 250 150 - 80 230 2009 IV Thuận Bắc 13 Hồ Sông Trâu 2005 66 31,53 3.989 14 Hồ Ba Chi 2005 3,2 0,40 40,0 27 27 27 82 15 Hồ Ma Trai 2005 3,8 0,48 30,0 - - - - 16 Hồ Bà Râu 2012 29,0 4,64 300,0 667 264 511 1.441 V Ninh Sơn 17 Hồ Cho Mo 2011 77,0 8,80 1.360 VI Huyện Bác Ái 18 Hồ Sông Sắt 2008 137 69,30 3.386 19 Hồ Trà Co 2011 94,0 10,09 1.162 32 205 205 442 20 Hồ Phước Trung 2012 16,6 2,35 270,0 25 53 308 386 21 Hồ Phước Nhơn 2012 11,3 0,78 205,0 - - 124 124 Cộng 912 194,27 16.722 Từ số liệu tưới cho thấy diện tích tưới thực tế và diện tích tưới thiết kế có sự khác nhau nhiều, diện tích tưới cho các vụ cũng khác nhau. Trong đó nhiều hồ chứa không đáp ứng được diện tích tưới theo thiết kế trong cả năm hoặc một vụ nào đó. Do vậy một 9 diện tích lớn đất nông nghiệp bị bỏ hoang làm ảnh hưởng tới tình hình kinh tế, xã hội của địa phương.2 Nhu cầu thực tế về nâng cao dung tích hữu ích của hồ chứa nước Bà Râu.
Theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Thuận đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050, đã được thông qua trong quyết định số: 1222/QĐ-TTG của thủ tướng chính phủ phê duyệt ngày 22/7/2011.