CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1. TÌNH HÌNH NẤM GÂY BỆNH TRÊN CÂY LÚA TẠI TỈNH AN GIANG VÀ KIÊN GIANG Theo Cục Bảo vệ Thực vật (Bộ NN-PTNT) cho biết, hiện nay nông dân các tỉnh ĐBSCL đang vào cao điểm sản xuất vụ lúa hè thu năm 2020, với tổng diện tích hơn 1,5 triệu ha. Tính đến thời điểm này, ở các tỉnh Đồng Tháp, Kiên Giang, Hậu Giang, An Giang đã có hơn 1.199 ha lúa bị nhiễm bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá, tăng hơn 665 ha so cùng kỳ năm trước.
Bên cạnh đó, ở ĐBSCL còn có khoảng 9.422 ha lúa bị đốm nâu; 6.967 ha bị bệnh đạo ôn; 7.143 ha bị bệnh lem lép hạt [5], [6]. Tình hình nấm gây bệnh trên lúa tại tỉnh An Giang Trước nguy cơ dịch hại bộc phát, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh An Giang đã đưa ra cảnh báo dịch hại có thể xảy ra trên ruộng lúa trong năm 2019 [5]. Khoảng từ tháng 6 đến tháng 10/2019, trong điều kiện môi trường có ẩm độ cao như mưa giông, bão kéo dài nhiều ngày, bệnh cháy bìa lá sẽ phát triển mạnh và nặng, bệnh có khả năng gây hại từ nhẹ đến nặng xuất hiện trên lúa giai đoạn làm đồng đến trổ đều và ngập sữa, trên các giống nhiễm như: OM6976, OM4900, Jasmine 85, OM4218 [5]. Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp tỉnh An Giang cũng khuyến cáo bệnh đạo ôn, đạo ôn cổ bông và lem lép hạt cũng có khả năng phát sinh và gây hại mạnh trên các ruộng sử dụng giống nhiễm bệnh, gieo sạ dày, bón thừa đạm,.
trong điều kiện thời tiết lạnh, ban ngày trời âm u, đêm và sáng sớm có sương mù hoặc là trời có mưa nắng xen nhau [5]. Bệnh vàng lá (vàng lá chín sớm) có thể phát sinh, bệnh gây hại nặng ở những ruộng lúa sạ dày lại bón quá nhiều phân đạm, trên các giống nếp, giống lúa thơm trong điều kiện biên độ nhiệt chênh lệch lớn giữa ngày và đêm. Do đó, khuyến cáo nông dân cần chú ý đến sâu đục thân, bệnh đốm vằn,. gây hại cục bộ để áp dụng các biện pháp quản lý và phòng trị kịp thời [5].
Luan van 5 Bên cạnh đó, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá có khả năng phát sinh tiềm ẩn và lây lan do rầy nâu di trú vẫn có mang virus gây bệnh [5]. Tình hình nấm gây bệnh trên lúa tại tỉnh Kiên Giang Tổng diện tích bệnh gây trên lúa Đông Xuân 2018-2019 là 39.325 ha, Các đối tượng gây hại chủ yếu gồm: - Lem lép hạt: tổng diện tích nhiễm là 9.376 ha, tỉ lệ 5-20%, cấp bệnh 1- 3, trong đó có 8.168 ha nhiễm nhẹ tỉ lệ 5-10%, xuất hiện ở các huyện như: Hòn Đất, Giồng Riềng, Gò Quao, Kiên Lương, Giang Thành, Rạch Giá và Châu Thành, diện tích nhiễm trung bình là 1193 ha, tỉ lệ 10-20%, diện tích nhiễm nặng là 15 ha, tỉ lệ >20%, xuất hiện ở huyện Kiên Lương [6]. - Bệnh đạo ôn: tổng diện tích nhiễm 5. Trong đó diện tích nhiễm đạo ôn lá là 637 ha , diện tích chủ yếu nhiễm nhẹ, tỉ lệ 5-10%, cấp bệnh 1-3.
Diện tích nhiễm đạo ôn cổ bông là 4.569 ha, tỉ lệ 2,5->10%, cấp bệnh 1-7, trong đó diện tích nhiễm nhẹ là 3.948 ha, tỉ lệ 2.5-5%, diện tích nhiễm trung bình là 618 ha, tỉ lệ 5-10%, xuất hiện ở các huyện Hòn Đất, Giồng Riềng, Gò Quao, Giang Thành, Kiên Lương, Rạch Giá, Tân Hiệp và Châu Thành, diện tích nhiễm nặng là 3 ha, tỉ lệ >10%, xuất hiện ở huyện Kiên Lương [6]. - Cháy bìa lá: tổng diện tích nhiễm là 906 ha, diện tích chủ yếu nhiễm nhẹ, tỉ lệ 10-20%, cấp 1-3, xuất hiện ở huyện Hòn Đất, Giồng Riềng, Giang Thành và Châu Thành [6]. - Thối thân: tổng diện tích nhiễm là 930 ha, trong đó diện tích nhiễm nhẹ là 550 ha, tỉ lệ 5-10%, diện tích nhiễm trung bình là 350 ha, tỉ lệ 10-20%, diện tích nhiễm nặng là 30 ha, tỉ lệ >20%, xuất hiện ở huyện Hòn Đất [6]. MỘT SỐ BỆNH HẠI THƯỜNG GẶP TRÊN CÂY LÚA 1.
Bệnh đạo ôn Bệnh đạo ôn gây hại ở tất cả các giai đoạn và bộ phận của cây lúa, có thể phát sinh từ thời kỳ mạ đến lúa chín và gây hại ở bẹ lá, lá, lóng thân, cổ bông, gié và hạt. Bệnh xảy ra quanh năm nhưng thường phát triển mạnh và gây thiệt hại Luan van 6 nặng trong vụ đông xuân. Điều kiện thời tiết lạnh, độ ẩm cao và sương mù về đêm thời gian qua là điều kiện thuận lợi để bệnh này phát triển. Tác nhân gây hại: Bệnh đạo ôn do nấm Pyricularia oryzae gây ra, là một trong các loại dịch hại nguy hiểm đối với cây lúa ở Việt Nam và nhiều nước khác trong khu vực [7], [13].
Ở giai đoạn sinh sản vô tính, nấm có tên là Pyricularia oryzae thuộc họ Moniliaseae, bộ Moniliales, lớp Hyphomycetes, ngành Deuteromycotia. Nấm có giai đoạn sinh sản hữu tính là Magnaporthe oryzae, họ Magnaporthaceae, bộ Diaporthales, lớp Sordariomycetes, ngành Ascomycota. Bào tử gây bệnh có kích thước rất nhỏ, không thế thấy được bằng mắt thường, hiện diện rất nhiều trong không khí, theo gió bay đi khắp nơi làm lây lan bệnh [7]. Đặc điểm sinh học, sinh thái và sự phát triển bệnh Sự xâm nhiễm của mầm bệnh bắt đầu tiếp xúc và bám chặt vào biểu bì của lá lúa, bào tử nảy mầm khi gặp điều kiện ẩm độ cao, nhiệt độ 26-28oC.
Thời gian nảy mầm từ khoảng 30 phút, đĩa áp hình thành trong khoảng 4-8 giờ và vòi xâm nhiễm hình thành khoảng 24 giờ sau khi tiếp xúc với bề mặt ký chủ. Sau khi xâm nhiễm khuẩn ty nhanh chóng phát triển trong mô tế bào, vết bệnh xuất hiện khoảng 76-92 giờ sau khi xâm nhiễm [7]. Nấm sinh trưởng trong phạm vi nhiệt độ 8-37oC, sản sinh bào tử trong môi trường từ 10-35oC, nhiệt độ tối ưu cho quá trình sinh sản bào tử là 28oC, ẩm độ tương đối không khí ≥ 93%. Một vết bệnh điển hình có thế sản sinh bào tử từ 2.000 bào tử/ngày trong thời gian 14 ngày, nhiều nhất là từ ngày thứ 3-8 từ khi có vết bệnh [7].
Triệu chứng gây bệnh: Trên lá: Bệnh gây hại chủ yếu ở giai đoạn mạ đẻ nhánh. Lúc đầu vết bệnh chỉ nhỏ như đầu mũi kim, màu xám xanh giống như bị nước sôi, sau đó chuyển sang màu nâu, rồi lan rộng dần ra thành hình thoi, xung quanh màu nâu đậm, giữa màu xám trắng. Nếu nặng, nhiều vết bệnh liên kết lại với nhau làm lá bị cháy khô, cây lúa bị lụi xuống, ruộng lúa sẽ bị thất thu nghiêm trọng [7], [11], [12]. Luan van 7 a b c Hình 1.
Bệnh đạo ôn trên lúa (a: Đạo ôn lá; b: Đạo ôn cổ bông; c: Đạo ôn hạt) Trên cổ bông, đốt thân, gié lúa: Nấm bệnh tấn công trên đốt thân, trên cổ bông và trên gié lúa. Chỗ bị bệnh lúc đầu có mầu xám xanh, sau chuyển dần sang màu nâu, nâu đậm. Trên cổ bông, nếu ẩm độ không khí cao, chỗ vết bệnh sẽ mọc một lớp nấm mốc màu xám xanh, nếu trời khô vết bệnh sẽ khô tóp lại. Gặp gió to chỗ vết bệnh bị gẫy gập, ruộng lúa trở nên xơ xác.
Do cản trở việc vận chuyển chất dinh dưỡng từ cây lúa lên nuôi hạt, làm cho hạt lúa bị lép lửng. Nếu nặng bệnh có thể làm cho hạt lúa bị lép hoàn toàn [7], [11]. Trên hạt: Vết bệnh có hình đốm tròn, viền nâu, tâm mầu xám trắng, đường kính khoảng 1-2 mm. Nếu nặng có thể làm cho hạt lúa bị lem lép lửng [7].
Biện pháp phòng ngừa Luan van 8 Không gieo trồng giống nhiễm bệnh, không lấy lúa ở những ruộng đã bị bệnh đạo ôn ở vụ trước để làm giống cho vụ sau. Chọn giống có gen kháng bệnh đạo ôn. Chọn giống sạch bệnh: xử lý hạt giống bằng nước nóng 54°C trong 10 phút hoặc xử lý bằng thuốc hoá học. Xử lý giống bằng cách trộn giống với nước muối 15%.
Điều tra bệnh, phân tích các yếu tố: nguồn bệnh, thời tiết, sinh trưởng của cây, đất đai, phân bón, cơ cấu giống lúa. Để canh tác cho vụ lúa tiếp theo không bị nhiễm bệnh đạo ôn mỗi đồng ruộng phải được dọn sạch tàn dư rơm rạ của mùa vụ trước. Mạ lúa được gieo không quá dày, mỗi ha chỉ gieo khoảng 100 – 120 kg mạ giống, nếu dùng máy chỉ cần 70 – 80 kg mạ giống. Quá trình bón phân cho cây lúa cần lưu ý không bón quá nhiều phân đạm, nhất là thời kỳ cuối đẻ nhánh và sau khi trỗ.
Phải bón cân đối giữa phân đạm, lân và phân kali. Nên bón theo bảng so màu lá lúa để cây lúa luôn khỏe mạnh, không bị tốt lốp, có sức chống đỡ với bệnh hại cao. Thường xuyên kiểm tra ruộng lúa để kịp thời phát hiện và có biện pháp phòng trị bệnh kịp thời. Nếu phát hiện cây lúa có bệnh thì phải ngưng bón phân đạm, không để ruộng bị khô nước và tiến hành phun xịt thuốc kịp thời [7].
Bệnh cháy lá Bệnh cháy lá là một bệnh mãn tính trên cây lúa, hầu như chưa có giống nào kháng hoặc chống chịu được với bệnh này. Bệnh cháy lá phát sinh và phá hại từ thời kỳ mạ đến chín, nhưng triệu chứng điển hình là sau khi lúa đẻ nhánh đến trổ và chín sữa. Tác nhân gây hại Bệnh do vi khuẩn Xanthomonas oryzae gây ra [7]. Vi khuẩn này có tế bào hình que với đầu tròn, với chiều dài từ 0,8 đến 1 μm, chiều rộng 0,4 đến 0,7 μm, bao quanh tế bào là một màng nhầy.
Đây là loại vi khuẩn Gram âm và không sinh bào tử, khuẩn lạc hình tròn, lồi, bề mặt nhẵn, màu vàng. Vi khuẩn này chủ yếu Luan van 9 xâm nhập vào hệ thống mạch dẫn rồi dẫn đến nhiễm trùng toàn thân cây lúa. Ngoài ra vi khuẩn còn có thể xâm nhập qua lỗ thùy khổng ở mép lá, đầu mút lá dễ dàng gây tổn thương dọc theo gân lá [13]. Triệu chứng gây bệnh Ở vụ Hè, bệnh thường phát sinh và gây hại giai đoạn cuối vụ.
Đặc biệt, sau những cơn mưa giông đầu mùa, kèm theo gió lớn vào thời kỳ lúa làm đòng - trổ chín là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh lây lan nhanh, gây hại nặng trên các giống mẫn cảm, những chân ruộng sâu, ruộng bón thừa đạm,… Khi độ ẩm không khí ≥90%, nhiệt độ 26-30oC, thời tiết âm u, mưa bão nhiều bệnh rất nặng. Vi khuẩn có thể sống trong nước 15-38 ngày, có thể tồn tại trong hạt giống 7-8 tháng và trong rơm rạ 3-4 tháng [7], [12]. Vết bệnh tạo thành các sọc từ mép lá gần đỉnh, phát triển dần cả chiều dài và rộng tạo thành vết cháy màu vàng xám nhạt.