CHƯƠNG I: ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN VỀ NGUỒN NĂNG LƯỢNG MỚI 1.1- Khái quát tình hình khai thác, sử dụng một số nguồn năng lượng mới và tái tạo. Các nguồn năng lượng mới và tái tạo (renewable energy resources) là các nguồn năng lượng luôn được sinh ra, luôn được tái tạo theo thời gian bởi những hoạt động của tự nhiên và nếu không được khai thác thì nó sẽ tự tiêu hủy và có thể gọi đó là sự lãng phí. Năng lượng mới và tái tạo còn được biết đến dưới những tên gọi khác theo những tính chất ưu việt của nó đối với môi trường và xã hội như: năng lượng xanh (green energy), năng lượng sạch (clean energy). Tiềm năng các nguồn năng lượng mới và tái tạo trên thế giới có thể coi là vô tận nhưng phân bố không đồng đều, tùy thuộc vào các điều kiện địa lý, điều kiện tự nhiên của từng khu vực trên trái đất.
Có nhiều dạng năng lượng mới và tái tạo, tuy nhiên hiện nay mới có một số dạng đang được nghiên cứu sâu hơn, ứng dụng nhiều hơn và phát triển rộng hơn như: thủy năng (hydraulic energy); năng lượng gió (wind energy); năng lượng mặt trời (solar energy); năng lượng sinh khối (biomass); khí sinh học (biogas); địa nhiệt (geothermal energy), năng lượng thủy triều (tidal energy). Hầu hết các dạng năng lượng này đều được khai thác dưới dạng điện năng, nhiệt năng hoặc nước nóng. Phạm vi ứng dụng của các nguồn năng lượng mới và tái tạo cũng rất rộng và hầu hết trong các ngành kinh tế (như: khoa học vũ trụ, điện lực, thông tin liên lạc, bảo đảm hàng hải, y tế, hóa chất, du lịch.) và phục vụ đời sống sinh hoạt của nhân dân, đặc biệt là các vùng nông thôn, miền núi. Các nguồn năng lượng mới và tái tạo hiện càng ngày càng được các quốc gia, các tổ chức trên thế giới quan tâm nhiều hơn trong nghiên cứu, phát NguyÔn H÷u Minh Hà nội- 09/2005 5 TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI Luận văn Thạc sỹ Hệ thông điện triển khai thác và ứng dụng.
Việc khai thác các nguồn năng lượng này, ngoài vấn đề phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên của từng vùng, từng khu vực còn tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội và chính sách của từng quốc gia, vùng lãnh thổ. Trong 10 năm trở lại đây những công ty năng lượng hàng đầu thế giới như Sell (USA), Siemens (Đức), BP (Anh), Kyocara, Sanyo (Nhật). đã có những đầu tư rất lớn cho những nguồn NLM&TT vì họ xác định NLM&TT là thị trường chính của thế kỷ 21. Các quốc gia công nghiệp phát triển cũng định hướng nguồn năng lượng tương lai là nguồn NLM&TT.1- Trên thế giới 1.1- Năng lượng gió.
Từ những năm 60 của thế kỷ trước, các turbine gió phát điện đã được nghiên cứu, ứng dụng với qui mô công suất nhỏ và ngày càng lớn dần. Mỹ là nước đi đầu trong việc phát triển ứng dụng turbin gió phát điện, tiếp đến là các nước: Hà lan, Đan mạch, Cộng hoà liên bang Đức, Ấn độ, Tây ban nha. Các turbine gió phát điện thường có công suất khá lớn, từ 50 kW đến 1. Ở Mỹ đã chế tạo thử nghiệm một số turbine gió có công suất từ 2.
Song cho đến nay, loại turbine gió phát điện có công suất từ 250 kW đến 650 kW được ứng dụng phổ biến nhất. Các turbine gió thường được xây dựng thành cụm mà người ta thường gọi là cánh đồng gió phát điện với qui mô công suất thường từ 20 MW đến 100 MW. Khoảng 30 năm sau đó, một số quốc gia châu Âu, Mỹ và Ấn độ đã có sự đột biến mạnh mẽ trong việc phát triển ứng dụng động cơ gió phát điện. Nước Đức đã dẫn đầu thế giới về tổng công suất lắp đặt.
Tính đến năm 2000, Đức có tổng công suất lắp đặt là 6.113 MW, tiếp theo là Mỹ với 2.495 MW, Tây ban nha: 2.481 MW, Đan mạch: 2.301 MW và Ấn độ là 1. NguyÔn H÷u Minh Hà nội- 09/2005 6 TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI Luận văn Thạc sỹ Hệ thông điện Số liệu tại bảng 1.1 dưới đây cho thấy công suất các dự án điện gió đã lắp đặt của các nước trên thế giới, tính đến năm 2002 (số liệu của RE World Review và Wind power Monthly 2002) Bảng 1.1: Công suất các dự án điện gió đã lắp đặt trên thế giới đến năm 2002 Tổng Tổng TT Tên nước công suất TT Tên nước công suất [ MW] [ MW] 1 Đức 8.753 14 Bồ đào nha 90 2 Mỹ 4.245 15 Áo 79 3 Tây ban nha 3.335 16 Aicập 68 4 Đan mạch 2.628 18 Maroc 54 6 Italy 697 19 Costarica 51 7 Anh 485 20 Phần lan 38 8 Hà lan 483 21 Các nước còn lại 37 9 Trung quốc 399 của châu Á 10 Nhật bản 312 22 Úc 21 11 Hylạp 205 23 Các nước Pacific 3,2 12 Canada 137 24 Các nước Bắc Phi 9,6 13 Nhật bản 120 25 Trung đông 19,2 14 Ireland 93 26 Các nước SNG 21 (Nguồn: Viện Năng lượng) NguyÔn H÷u Minh Hà nội- 09/2005 7 TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI Luận văn Thạc sỹ Hệ thông điện 1.2- Pin mặt trời Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng khổng lồ, vô tận. Hàng năm, nguồn năng lượng này cấp xuống trái đất một lượng năng lượng gấp 20.000 lần nhu cầu tiêu thụ năng lượng của con người. Song đến nay, việc khai thác sử dụng nguồn năng lượng này còn quá nhỏ bé so với tiềm năng.
Từ ngàn xưa con người đã biết sử dụng năng lượng mặt trời để phục vụ cho cuộc sống của mình như: phơi, sấy các nông, lâm và hải sản sau thu hoạch. Tuy là nguồn năng lượng lớn song lại không tập trung, mà phân bố rải rác đôi khi không liên tục. Vì vậy, việc khai thác, sử dụng nguồn năng lượng này phải đòi hỏi nghiên cứu ứng dụng ở trình độ công nghệ cao. Một trong những kỹ thuật được nghiên cứu ứng dụng thành công nhất và phát triển mạnh nhất là công nghệ pin mặt trời.
Công nghệ này đã phục vụ cho nhiều ngành khoa học tiên tiến như nghiên cứu vũ trụ, thông tin liên lạc, dự báo thời tiết. và phục vụ thiết thực trong việc cung cấp điện năng cho sản xuất và sinh hoạt của cuộc sống con người. Các nước như Mỹ, Nhật bản, Ấn độ, Trung quốc, Italy, Inđônêsia, Thái lan, Philípin. là những nước có sản lượng sản xuất và ứng dụng pin mặt trời nhiều nhất trên thế giới.
Tổng công suất lắp đặt ứng dụng pin mặt trời trên thế giới tính đến cuối năm 2001 (số liệu từ Viện Năng lượng) là 1.950 MW, trong đó 6 nước nhiều nhất là: Nhật bản: 465 MW; Đức: 200 MW; Mỹ: 185 MW; Ấn độ : 96 MW; Hà lan: 40 MW; Italy: 37 MW.3- Địa nhiệt: Địa nhiệt năng được lấy ra từ từ hơi nóng ở độ sâu 200 mét đến 3.000 mét trong lòng đất (càng sâu thì nhiệt độ càng cao, nhiệt độ tại trung tâm trái đất đạt đến 4. Do kiến tạo của trái đất, magma trong lòng đất hâm nóng những khối đá và các dòng nước ngầm. Một số các dòng nước ngầm NguyÔn H÷u Minh Hà nội- 09/2005 8 TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI Luận văn Thạc sỹ Hệ thông điện thoát lên gần bề mặt qua các vết rạn trong lòng đất và được giữ lại trong những khối đá (các hang giữa những khối đá không thấm nước) và được gọi là những hồ địa nhiệt (geothermal reservoir). Đây chính là những nguồn địa nhiệt năng có thể khai thác để sử dụng.
Địa nhiệt năng được sản xuất dưới dạng nước và hơi nóng. Địa nhiệt năng cũng được sử dụng để sản xuất điện. Nguyên lý sản xuất điện từ địa nhiệt được biểu hiện tại các sơ đồ: hình 1.4 dưới đây: Hình 1.1- Sơ đồ nhà máy điện địa nhiệt. Department of Energy, http://www.gov/kids/renewable/geothermal.
NguyÔn H÷u Minh Hà nội- 09/2005 9 TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI Luận văn Thạc sỹ Hệ thông điện Hình 1.2- Điện địa nhiệt hơi khô Hình 1.3- Điện địa nhiệt nước nóng (Nguồn: National Renewable Energy Laboratory, US (NREL)) NguyÔn H÷u Minh Hà nội- 09/2005 10 TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI Luận văn Thạc sỹ Hệ thông điện Hình 1.4- Điện địa nhiệt chu trình đôi (Nguồn: National Renewable Energy Laboratory, US (NREL)) Năm 1960, nhà máy điện địa nhiệt lớn đầu tiên được khai trương và vận hành tại Geysers (California - Mỹ) với công suất 11 MW. Tính đến năm 2000, có khoảng 20 quốc gia trên thế giới ứng dụng điện địa nhiệt với tổng công suất vào khoảng 8. Mỹ là quốc gia dẫn đầu, tiếp đến là Philippines, Italy, Meexico, Indonesia.2: Công suất đặt của các nhà máy điện địa nhiệt trên thế giới Tên nước 1995 2000 Tên nước 1995 2000 (MW) (MW) (MW) (MW) United States 2,817 2,228 Kenya 45 45 NguyÔn H÷u Minh Hà nội- 09/2005 11 TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI Luận văn Thạc sỹ Hệ thông điện Philippines 1,227 1,909 Guatemala 33 33 Italy 632 785 China 29 29 Mexico 753 755 Russia 11 23 Indonesia 310 590 Turkey 20 20 Japan 414 547 Portugal 5 16 New Zealand 286 437 Ethiopia 0 8 Iceland 50 170 France 4 4 El Salvador 105 161 Thailand 0.3 Costa Rica 55 142 Australia 0.4- Khí sinh học Khí sinh học (biogas) được nghiên cứu và ứng dụng từ rất lâu trên thế giới nhưng bắt đầu phát triển tương đối mạnh mẽ vào những năm 70 của thế kỷ trước và được coi như là một công nghệ quan trọng đối với chương trình năng lượng nông thôn. Bên cạnh việc cung cấp năng lượng thì đây cũng là chương trình vệ sinh môi trường tốt, bảo vệ sức khỏe cộng đồng thông qua việc thu gom chất thải để sản xuất biogas.
Ấn độ, Đức, Pháp, Nga, Mỹ, Israel là những quốc gia dẫn đầu về việc sản xuất biogas. Biogas được sản xuất từ nhiều nguyên liệu khác nhau như: phân gia súc, gia cầm; giấy báo, cỏ, lá cây. Trong luận văn chỉ đề cập đến các nguyên liệu phân gia súc, phân gia cầm và phân người. NguyÔn H÷u Minh Hà nội- 09/2005 12 TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI Luận văn Thạc sỹ Hệ thông điện Tiềm năng lý thuyết được xác định trên cơ sở số lượng đàn gia súc, gia cầm và dân số của từng vùng, từng quốc gia trong từng thời kỳ với các thông số tính toán như bảng 1.3 - Các thông số để tính toán đối với phân gia súc Lượng phân Sản lượng khí Loại động Tỷ lệ chất Hiệu suất sinh TT thải hàng sinh học vật khô (%) khí (lít/kg khô) năm (kg/con) (m3/năm.000 17 250 170 2 Lợn 1000 20 300 60 3 Gia cầm 15 35 300 1,35 4 Người 90 30 300 8,1 (Nguồn: Viện năng lượng) 1.