Chương 1: Tổng quan về lĩnh vực cũng như đề tài nghiên cứu. Trình bày khái quát về tình hình lĩnh vực vi mạch nghiên cứu hiện nay, thông qua đó đề cập đến tầm quan trọng của đề tài. Chương 2: Trình bày về nguồn gốc ra đời của memristor; Cấu trúc, đặc điểm, chất liệu và nguyên lý hoạt động của các mô hình memristor. Qua đó, trình bày khả năng ứng dụng của memristor trong nhiều lĩnh vực kỹ thuật, và rút ra những tính năng vượt trội, cũng như thách thức của vật liệu mới này.
6 Luan van Chương 1: Tổng quan Chương 3: Trình bày về các mô hình memristor được xây dựng bởi các nhà nghiên cứu khoa học trên thế giới. Mỗi mô hình có một sự khác biệt nhất định dựa trên nền tảng là lý thuyết mà Chua đã đưa ra. Chương 4: Trình bày về ứng dụng memristor trong việc xây dựng các cổng logic số kết hợp với công nghệ CMOS truyền thống. Đồng thời dựa trên đó để thiết kế một số mạch logic cơ bản bằng việc kết hợp các cổng logic lại với nhau.
Chương 5: Kết luận và hướng phát triển đề tài. 7 Luan van Chương 2: Memristor CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Nguồn gốc của memristor Bất cứ ai với kiến thức cơ bản trong kỹ thuật điện đều biết rằng có bốn đại lượng cơ bản của mạch là: dòng điện i, điện áp v, điện tích q, từ thông φ. Rõ ràng với bốn thông số này có thể tạo ra sáu tổ hợp có mối liên hệ chúng với nhau.
Cho đến nay chúng ta hiểu và hoàn toàn kiểm soát năm mối liên hệ của những sự kết hợp đó với ba yếu tố mạch cơ bản là điện trở R, tụ điện C và cuộn cảm L. Không giống như các thành phần hoạt động mà có thể tạo ra năng lượng, ba yếu tố này là các phần tử thụ động chỉ có khả năng lưu giữ hoặc tiêu hao năng lượng nhưng không tạo ra nó. Các đặc tính của một trong ba yếu tố có thể được mô tả bởi một mối quan hệ tuyến tính giữa hai biến của mạch. Mối quan hệ giữa ‘điện áp và dòng điện’, ‘điện áp và điện tích’, và ‘dòng điện và từ thông’ được định nghĩa bởi một điện trở, tụ điện và một cuộn cảm tương ứng.1 cho thấy ba mối quan hệ.
Hơn nữa, hai kết hợp khác được định nghĩa bởi định luật Faraday. Định luật Faraday cho thấy dòng điện là đạo hàm của của điện tích theo thời gian và điện áp là đạo hàm của từ thông theo thời gian.2 cho thấy mối quan hệ giữa các thông số này.1: Quan hệ giữa các biến mạch gồm điện trở, tụ điện và cuộn cảm. 8 Luan van Chương 2: Memristor Hình 2.2: Mối quan hệ giữa bốn biến mạch được biết đến trước khi chưa có bài báo của Chua. Lưu ý còn thiếu liên kết giữa φ và q.
Năm 1971, Leon Chua, một giáo sư từ đại học Berkeley so sánh định nghĩa này với lý thuyết vật chất của Aristotle. Dựa trên lý thuyết của Aristotle được hiển thị trong hình 2.3, tất cả các yếu tố được bao gồm bốn yếu tố cơ bản, cụ thể là đất, nước, không khí và lửa. Ngoài ra còn có bốn thuộc tính cơ bản: khô, ẩm, nóng, lạnh.3: Lý thuyết vật chất của Aristotle 9 Luan van Chương 2: Memristor Hình 2.4: Mối quan hệ giữa bốn biến mạch, xác định bốn thành phần mạch bao gồm cả memristor. Bất kỳ các yếu tố cơ bản đại diện cho hai trong số bốn thuộc tính cơ bản.
Sau khi kiểm tra một số phát hiện của Chua nhận thấy có một sự tương đồng giữa các mối quan hệ giữa các yếu tố trên với các tham số mạch điện. Ông nhận thấy rằng không có yếu tố liên quan từ thông và điện tích. Do đó, ông dự đoán rằng dựa trên tính đối xứng, có phải là một phần tử mạch cơ bản thứ tư. Ông gọi là yếu tố giả thuyết là "memristor".
Yếu tố thứ tư này mô tả mối quan hệ giữa điện tích và từ thông. Nhưng tại sao không ai xem xét mối liên kết còn thiếu này cũng là một câu hỏi đáng quan tâm. Sau đó phải mất khoảng 40 năm để memristor được thực sự thực hiện dưới một hình thức vật lý.4 biển thị các mối quan hệ hoàn toàn giữa tất cả bốn yếu tố mạch và các biến. Định nghĩa memristor Memristor viết tắt của: memory resistor, là một thiết bị thụ động, một nhân tố mạch hai cực, thể hiện mối quan hệ giữa từ thông và điện tích, trong đó từ thông giữa hai cực là một hàm của lượng điện tích chạy qua nó.
Memristor không phải là một nhân tố chứa năng lượng. 10 Luan van Chương 2: Memristor Nhà nghiên cứu Leon Chua định nghĩa nhân tố này như một điện trở, mà trở kháng thay đổi dựa trên lượng điện tích chạy qua. Kí hiệu được minh họa như hình 2.5: kí hiệu của memristor Nếu mối quan hệ giữa từ thông và điện áp được thể hiện như một chức năng của điện tích thì nó là một memristor điều khiển điện tích và khi nó được thể hiện như là một chức năng của từ thông thì nó là một memristor điều khiển từ thông [6]. Với memristor điều khiển điện tích thì: 𝜑(𝑡) = 𝑓(𝑞) (2.1) Cách thể hiện (2.2) 𝑑𝑞 𝑑𝑞 𝑑𝑡 𝑑𝜑 𝑑𝑞 Mà ta có: điện áp 𝑣 (𝑡 ) = và dòng điện 𝑖(𝑡 ) = nên (2.2) có thể viết lại như 𝑑𝑡 𝑑𝑡 sau: 𝑣(𝑡) = 𝑀(𝑞)𝑖(𝑡) (2.4) 𝑑𝑞 M(q) là trở kháng nhớ, đơn vị là ohm tương tự như điện trở.
Tương tự như các phương trình trên ta có thể viết một thông lượng memristor điều khiển từ thông 𝑞(𝑡) = 𝑓(𝜑) (2.5) Cách thể hiện (2.6) 𝑑𝑡 𝑑𝜑 𝑑𝑡 𝑑𝑞 𝑑𝜑 Mà ta có: dòng điện 𝑖(𝑡 ) = và điện áp 𝑣 (𝑡 ) = nên (2.6) có thể viết lại như 𝑑𝑡 𝑑𝑡 sau: 𝑖(𝑡) = 𝑊(𝜑)𝑣(𝑡) (2.7) 11 Luan van Chương 2: Memristor Trong đó: 𝑑𝑓 (𝜑) 𝑊 (𝜑 ) = (2.8) 𝑑𝜑 W(φ) được gọi là cảm kháng (memductance) và tương tự như cuộn cảm, nó có đơn vị là Siemens. Trở kháng nhớ (memristance) Trở kháng nhớ là một tính chất của memristor. Khi luồng điện tích chạy qua thiết bị theo một hướng, thì trở kháng của thiết bị tăng lên. Còn khi luồng điện tích chạy theo hướng ngược lại thì trở kháng của thiết bị giảm.
Khi mà điện áp đặt vào thiết bị bị ngắt, tức là luồng điện tích ngừng, thì memristor vẫn nhớ trạng thái trở kháng cuối ngay trước khi tắt nguồn cấp. Khi mà cấp điện áp trở lại thì trở kháng của thiết bị cũng sẽ giống như là trở kháng cuối cùng mà nó lưu trữ được trước khi ngắt nguồn. Mỗi memristor được mô tả bởi một hàm trở kháng nhớ, mô tả tốc độ thay đổi từ thông dựa trên điện tích chạy qua thiết bị.9) 𝑑𝑞(𝑡) 𝐼 (𝑡 ) Biểu thức này cho thấy rằng trở kháng nhớ xác định một mối liên hệ tuyến tính giữa dòng điện và điện áp khi điện tích không thay đổi. Miễn là M thay đổi ít, ví dụ ta sử dụng nguồn cấp xoay chiều, thì memristor có thể xem như là một điện trở có trở kháng cố định.
Tính chất của memristor Memristor là một nhân tố 2 cực thụ động, mô tả mối quan hệ của điện tích chạy qua thiết bị (tích phân theo thời gian của dòng điện) với từ thông; hay có thể định nghĩa memristor là một thiết bị bán dẫn 2 cực mà trở kháng của nó phụ thuộc vào độ lớn và cực tính của điện áp đặt vào nó và thời gian mà điện áp đó tác động vào. Khi mà ta ngưng điện áp này thì memristor vẫn ghi nhớ trở kháng gần nhất của nó cho đến lần tiếp theo tác động vào nó bất chấp thời gian sau đó là bao lâu, có thể là một vài ngày hay một vài năm sau. 12 Luan van Chương 2: Memristor Cái tên của nó ngụ ý rằng, memristor có thể “nhớ” dòng điện đã chạy qua nó là bao nhiêu. Đáng chú ý nhất là nó có thể lưu trạng thái điện tử của nó thậm chí cả khi dòng điện đã được ngắt, điều này giúp ta có thể thiết kế một bộ nhớ lưu trữ mới sử dụng memristor để thay thế cho bộ nhớ flash hiện nay.
Memristor có đặc tính cũng khá giống trở kháng. Giả sử xem một điện trở như là một cái ống mà dòng nước chạy qua nó. Xem dòng nước như là điện tích. Khả năng cản trở dòng điện tích của điện trở được xem như là độ lớn đường kính của ống: ống càng nhỏ, trở kháng càng lớn.
Trong lịch sử thiết kế mạch, các điện trở có bán kính ống nước cố định. Nhưng một memristor là ống nước mà có thể thay đổi đường kính ống bằng lượng nước và hướng chảy của luồng nước chạy qua nó. Nếu cho nước chảy vào theo một hướng, thì ống sẽ lớn lên (trở kháng giảm), nhưng nếu nước chảy theo hướng ngược lại thì ống sẽ bị co lại (trở kháng tăng). Hơn nữa, khi ngưng cấp nước thì memristor vẫn nhớ đường kính của nó khi nước chảy qua lần cuối cùng.
Ta thấy, ống nước không lưu trữ nước mà nó chỉ nhớ đã có bao nhiêu nước chảy qua nó.6: Sơ đồ minh họa memristor qua dòng điện và độ lớn của ống Nguyên nhân mà memristor khác cơ bản so với các nhân tố mạch căn bản khác là nó có khả năng nhớ. Khi ngưng cung cấp điện áp cho nó thì nó vẫn tiếp tục nhớ đã có bao nhiêu điện áp được đặt vào và đã đặt vào bao lâu. Kết quả này không thể đạt được ở bất cứ nhân tố mạch căn bản nào, vì thế mà memristor được xem như là một 13 Luan van Chương 2: Memristor nhân tố mạch căn bản. Về mặt kĩ thuật thì cơ chế này có thể được tái tạo bằng cách sử dụng nhiều transistor và tụ điện nhưng như thế thì quá tốn kém và phức tạp.
Một memristor lý tưởng là một thiết bị điện tử 2 cực thụ động, và chỉ mô tả duy nhất đặc tính trở kháng nhớ. Tuy nhiên, rất khó để xây dựng được một memristor tinh khiết như vậy khi mà tất cả thiết bị thực tế đều chứa một lượng nhỏ đặc tính khác. Hai tính chất đáng chú ý nhất của memristor đó là: thứ nhất, tính chất nhớ của nó, thứ hai là kích thước nano siêu nhỏ. Tính chất và khả năng nhớ của memristor cho chúng ta nghĩ về nhiều phương pháp máy tính siêu nhỏ mới.
Với một thiết bị kích thước nano thì mật độ tích hợp sẽ rất cao và tốn ít năng lượng. Thêm nữa, quá trình sản xuất các thiết bị nano thì đơn giản hơn và rẻ hơn việc sản xuất sử dụng công nghệ CMOS truyền thống. Các thuộc tính memristor 2.