CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN 1. Màng lọc và các quá trình tách dùng màng 1. Màng lọc Là vật liệu được sử dụng trong quá trình tách một hỗn hợp đồng thể hay dị thể, có thể coi màng là một lớp chắn có tính thấm chọn lọc đặt giữa hai pha (pha đi vào (feed) và pha thấm qua (filtrate). Hiện nay, các loại màng đang được sử dụng trong sản xuất nước sạch, nước siêu sạch, hay trong xử lý nước ô nhiễm hầu hết đều được chế tạo từ vật liệu polyme như polysulfone (PSf), polyethersulfone (PES), polyamide (PA) [2].
Các loại màng này phần lớn đều bền cơ học, có khả năng chịu nhiệt, chịu pH rộng, ít bị nén ép ở áp suất cao. Tuy nhiên, nhược điểm của các loại màng này là có lớp vật liệu màng khá kỵ nước và bề mặt màng khá thô nhám, dẫn đến màng dễ bị tắc do sự bám phủ của các chất được lưu giữ bởi màng trong quá trình lọc, gây nên hiện tượng tắc màng [2]. Trong quá trình tách, màng có khả năng lưu giữ một số cấu tử trong hỗn hợp, và cho các cấu tử khác đi qua. Quá trình vận chuyển chất qua màng được thực hiện một cách tự nhiên hay cưỡng bức nhờ động lực giữa hai phía màng.
Động lực của quá trình tách qua màng có thể là chênh lệch áp suất, chênh lệch nồng độ, chênh lệch nhiệt độ hay chênh lệch điện trường [1]. Màng lọc Hình 1. Sơ đồ quá trình tách qua màng 1.1: Sơ đồ quá trình tách qua màng 3 1. Phân loại màng lọc 1.
Vi lọc (MF) Màng vi lọc (MF) là loại màng xốp, đối xứng, kích thước lỗ màng khoảng 0,1 micron – 10,0 micron; màng có khả năng lưu giữ các tiểu phân có kích thước tương đối lớn và các vi khuẩn. Loại màng này có trở lực thấp, quá trình lọc tách qua màng được thực hiện theo cơ chế sàng lọc [1]. Vi lọc thường được sử dụng cùng với các quá trình phân tách khác như siêu lọc và thẩm thấu ngược như một bước tiền xử lý. Siêu lọc (UF) Màng siêu lọc (UF) là màng dùng để tách các tiểu phân có kích thước từ tương đối nhỏ tới kích thước trung bình.
Màng UF có cấu trúc bất đối xứng, vật liệu tạo màng thường là polyme hoặc gốm, kích thước lớp hoạt động khoảng từ 5 đến 20 nm. Độ cản thủy lực của màng khoảng 1 - 10 bar [1]. Quá trình lọc tách qua màng được thực hiện theo cơ chế sàng lọc. Thẩm thấu ngược (RO) và lọc nano (NF) Màng thẩm thấu ngược (RO) và màng lọc nano (NF) đều có cấu trúc bất đối xứng, kích thước lỗ màng vô cùng nhỏ, khoảng 1 - 2 nm (RO) và 2 - 5 nm (NF).
Hai loại màng này có thể tách được các ion trong dung dịch và cho dung môi đi qua. Độ cản thủy lực của màng RO và NF khá cao, do đó, áp suất làm việc qua màng có thể lên đến 100 bar (đối với RO) hay 7- 30 bar (đối với NF) [1]. Tuy khá giống nhau về cấu trúc và phương pháp chế tạo, màng NF có kích thước lỗ lớn hơn màng RO, và sự chuyển khối qua màng NF phức tạp hơn vì quá trình tách không chỉ xảy ra theo cơ chế hòa tan - khuếch tán/ hấp phụ mao quản, mà còn cả cơ chế sàng lọc. Điểm tương đồng giữa màng RO và NF là đều bền về mặt hóa học, chống vi khuẩn và có độ bền cơ học tốt.
Giới hạn tách của các quá trình màng động lực áp suất 1. Màng lọc composite polyamide lớp mỏng (TFC-PA) Màng lọc composite polyamide lớp mỏng (TFC-PA) gồm có ba lớp, lớp bề mặt (top-layer) là polyamide, dưới lớp bề mặt là lớp đỡ xốp polysulfone, dưới cùng là lớp nền polyeste. Khả năng tách của màng là do lớp bề mặt quyết định. Lớp bề mặt với kích thước được chế tạo bằng phương pháp trùng hợp bề mặt phân tách pha (interphase polymerization) từ các monome m-phenylenediamine (MPD) và trimesoyl chloride (TMC).
Cấu tạo màng composite polyamide lớp mỏng 5 So với các loại màng polyme khác, màng polyamide có thể được sử dụng ở nhiệt độ cao hơn, khả năng chịu môi trường chlor của màng khá thấp, không bị phá hủy bởi vi sinh vật. Không chỉ có độ bền cơ học vượt trội so với các màng composite khác, màng composite polyamide lớp mỏng làm việc trong phạm vi pH rộng (2 - 11) [24,26]. Do có hiệu quả tách rất cao, tính năng cơ học và hóa học rất tốt, loại màng này được ứng dụng trong nhiều quá trình tách, đặc biệt trong sản xuất nước sạch và xử lý nước ô nhiễm [8,11,13,23,25]. Giống như các loại màng động lực áp suất khác, nhược điểm chính của màng TFC-PA là lớp bề mặt khá kỵ nước và bề mặt màng thô nhám, gồ ghề nên rất dễ bị tắc trong quá trình hoạt động do các tác nhân tách bám phủ lên trên bề mặt và chui vào các mao quản gây suy giảm thông lượng lọc theo thời gian [18].
Cơ chế tách qua màng TFC-PA (Thuyết hấp phụ mao quản): Thuyết này cho rằng màng bán thấm được cấu tạo từ nhiều mao quản, trên bề mặt màng bán thấm và bên trong ống mao quản hình thành một lớp nước liên kết hấp phụ. Do tác dụng của các lực hoá lý, lớp nước hấp phụ này đã mất đi một phần hay toàn bộ khả năng hoà tan chất tan, vì thế, nó không cho chất tan đi qua các ống mao quản. Nếu các ống mao quản có đường kính đủ nhỏ hơn hai lần chiều dày lớp nước liên kết hấp phụ thì màng chỉ cho nước tinh khiết đi qua. Thuyết này giải thích khá đầy đủ cơ chế và các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình tách [2].
Mô hình cơ chế tách qua màng TFC-PA [2] 6 1. Hiện tượng tắc màng (fouling) và tắc màng sinh học (biofouling) 1. Hiện tượng tắc màng Tắc màng là sự suy giảm thông lượng lọc trong quá trình tách, gây cản trở nghiêm trọng đối với các ứng dụng của kỹ thuật lọc màng. Nguyên nhân là do trong quá trình lọc tách qua màng, có thể xảy ra hiện tượng chất tan bị hấp phụ trên bề mặt và bên trong các lỗ xốp của màng, làm cho thông lượng lọc của màng giảm xuống theo thời gian.
Hiện tượng tắc màng làm tăng trở lực của màng trong suốt quá trình, thậm chí, khi tất cả các thông số hoạt động, như áp suất, tỉ lệ lưu lượng, nhiệt độ, nồng độ đều được giữ không đổi. Tắc nghẽn bên trong mao quản của màng liên quan đến sự hấp phụ của các tiểu phân bên trong lỗ màng. Tắc nghẽn bên trên bề mặt màng liên quan đến sự hấp phụ của chất tan ở trên bề mặt màng [1,2,23] Hình 5 cho thấy sự khác nhau giữa các cơ chế gây tắc, nó có thể được phân thành hai loại: (1) tắc nghẽn bên trên bề mặt màng và (2) tắc nghẽn bên trong mao quản của màng. Cơ chế tắc nghẽn màng: (a) Tắc nghẽn bên trên bề mặt màng và (b) tắc nghẽn bên trong mao quản của màng 1.
Hiện tượng tắc màng sinh học Tắc màng sinh học là thuật ngữ dùng để mô tả các kiểu tắc màng có liên quan đến vi sinh vật [10]. Quá trình này xảy ra do các vi khuẩn phát triển, dẫn đến sự hình thành lớp màng vi khuẩn bám trên bề mặt. Thông thường, hiện tượng tắc màng sinh học được khơi mào bởi sự bám dính của một hay vài kiểu vi khuẩn trên bề mặt màng, sau đó, phát triển nhanh và được nhân lên với sự có mặt của các chất dinh dưỡng có trong nước. Sự hình thành màng sinh học là một quá trình gồm nhiều giai đoạn với 7 sự tích tụ dần dần của các vi sinh vật trên bề mặt màng.
Khi sử dụng màng trong xử lý nước thải, lớp màng sinh học có thể dày 20 - 30𝜇𝑚. Tại đây, các vi sinh vật sẽ phát triển và sử dụng các chất dinh dưỡng có trong nước. Qua đó, chúng sẽ bài tiết các chất cao phân tử ngoại bào (EPS) ra bề mặt xung quanh tế bào, tạo thành một lớp chất nhờn để bảo vệ các vi sinh vật, và được gọi là màng sinh học, gây tắc trong quá trình lọc [17]. Khi quá trình tắc nghẽn tiến triển, thông lượng lọc qua màng giảm mạnh, áp suất làm việc tăng, do đó, cần tiêu hao năng lượng để duy trì thông lượng lọc phù hợp.
Thông thường, việc rửa màng được áp dụng để làm sạch và loại bỏ các chất gây tắc nghẽn nhằm phục hồi thông lượng lọc cho màng, tuy nhiên, đối với tắc màng sinh học việc làm này hầu như không có tác dụng do lớp màng sinh học thường Hình 6. Các giai đoạn hình thành lớp màng sinh học bám rất lâu và rất khó có thể tách ra khỏi bề mặt màng [4]. Các giải pháp cải thiện khả năng kháng tắc và kháng tắc sinh học của màng Khả năng phân tách của màng nói chung bao gồm tính thấm nước và sự loại bỏ chất tan - những yếu tố quyết định trực tiếp đến hiệu quả của quá trình màng. 8 Ngoài ra, các đặc điểm quan trọng khác bao gồm tính ưa nước, độ thô nhám bề mặt, điện tích, tính ổn định và khả năng kháng khuẩn của màng, những yếu tố này không chỉ liên quan đến khả năng phân tách, mà còn ảnh hưởng đáng kể đến sự tắc nghẽn của màng [2].
Tính ưa/kỵ nước Tính ưa/kỵ nước là đặc tính của vật liệu thể hiện ái lực với nước. Bề mặt của màng ưa nước có thể dễ dàng hấp phụ nước. Ngược lại, màng kỵ nước có ít hoặc không có xu hướng hấp phụ nước. Tính ưa/kỵ nước tương đối có thể được xác định bằng cách sử dụng phép đo góc tiếp xúc.
Nói chung, bề mặt màng ưa nước được ưu tiên trong các ứng dụng RO để tăng cường tính thấm nước và giảm xu hướng bị tắc nghẽn của màng [2]. Tuy nhiên, hầu hết các màng thương mại hiện nay được chế tạo từ các polyme kỵ nước do chúng có tính ổn định về nhiệt động, hóa học và cơ học cao như polyvilidenefluoride (PVDF), polyethersulfone (PES), polysulfone (PSf), polypropylen (PP), polyacrylonitrile (PA) và polyethylen (PE). Chính bởi tính kỵ nước cao của màng, các vật liệu này dễ hấp phụ các chất khác nhau. Mặt khác, nếu có một lớp nước mỏng tồn tại ở bề mặt của màng ưa nước thì lớp này có thể ngăn ngừa hoặc làm giảm sự hấp phụ hoặc bám dính không mong muốn của các tiểu phân gây tắc (foulant) trên bề mặt màng.
Do đó, việc tăng cường tính ưa nước của bề mặt có ý nghĩa rất quan trọng nhằm giảm sự tắc nghẽn màng, gây ra bởi các chất ô nhiễm hữu cơ và vi sinh vật [2].