phần mở đầu và phần kết luận, luận văn có cấu trúc bao gồm bốn chƣơng nội dung chính sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài. Chƣơng 2: Bối cảnh lao động di cƣ nam xuyên biến giới Việt-Trung. Chƣơng 3: Những trải nghiệm của lao động di cƣ nam xuyên biến giới Việt- Trung. Chƣơng 4: Hồi hƣơng và quá trình tái hoà nhập của lao động di cƣ nam.
14 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Nghiên cứu di cư nội địa Nghiên cứu di cƣ ở Việt Nam hiện nay rất đa dạng. Trên thực tế những nghiên cứu về di cƣ ở nƣớc ta chỉ đƣợc triển khai mạnh mẽ nhất trong khoảng hơn hai thập kỉ trở lại đây.
Xuất phát từ những thay đổi của nhà nƣớc về đƣờng lối đổi mới đất nƣớc đƣợc khởi phát từ năm 1986. Theo thời gian, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhiều trung tâm với ngày càng nhiều các khu đô thị, khu công nghiệp và khu chế xuất mọc lên. Nhƣ một hệ quả tất yếu, các luồng di cƣ ồ ạt từ mọi nơi đổ về những khu trung tâm đô thị để tìm kiếm những cơ hội, trƣớc hết là cơ hội việc làm. Vấn đề di cƣ trở thành một vấn đề nóng bỏng bởi những tác động lớn của nó đến mọi mặt từ vấn đề kinh tế, chính trị cho đến các vấn đề về xã hội và văn hóa.
Điều này đặc biệt ảnh hƣởng đến công việc quản lý xã hội và hoạch định chính sách. Trên cơ sở đó nhiều những nghiên cứu về di cƣ đƣợc tiến hành, bao gồm cả những nghiên cứu trên bình diện quốc gia và những nghiên cứu của các tổ chức, các nhóm và những cá nhân. Trong đó, nhiều công trình nghiên cứu nói trên đã có kết quả công bố và xuất bản dƣới dạng sách, bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành hoặc dƣới dạng những báo cáo tổng kết đề tài, hay các báo cáo trình bày tại hội thảo vv… Mỗi công trình với những mục tiêu nghiên cứu khác nhau, nhƣng nhìn chung các nghiên cứu nhằm tìm ra lời giải cho bài toán trong việc hoạch định chính sách nhằm kiểm soát có hiệu quả vấn đề di cƣ nhằm hƣớng tới mục tiêu thực hiện tốt các vấn đề an sinh xã hội. Bên cạnh đó, hầu hết các nghiên cứu trƣớc đây đều nhất trí về tính cơ học của di cƣ và coi di cƣ nhƣ một hiện tƣợng tự nhiên.
Các nghiên cứu còn có sự đồng nhất rằng chính quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã góp phần thúc đẩy các luồng di cƣ tự do nông thôn-đô thị. Có thể kể ra các công trình nghiên cứu qui mô cấp nhà nƣớc với những kết quả đầy ý nghĩa về di cƣ nhƣ: Các tài liệu công bố về kết quả Điều tra di cƣ Việt Nam năm 15 z 2004; Các cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999 và 2009; Điều tra mức sống dân cƣ; Điều tra biến động dân số, kế hoạch hóa gia đình hằng năm. Trong các công trình nghiên cứu qui mô quốc gia kể trên, thì hai cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999 và 2009 là hai nghiên cứu với qui mô rộng lớn nhất. Tuy không tập trung vào vấn đề chính là di cƣ, nhƣng hai cuộc điều tra này đã cung cấp những thông tin tổng quan và cập nhật nhất mang tính đại diện về nhân khẩu học về các dòng di dân trong nƣớc.
Kết quả Tổng điều tra dân số, nhà ở Việt Nam năm 2009 cho thấy rằng: Số dân di cƣ giữa các tỉnh có xu hƣớng ngày càng tăng với mức tăng từ hai triệu ngƣời năm 1989 lên 3,4 triệu ngƣời tới thời điểm nghiên cứu năm 2009; có sự khác biệt giữa các dòng di cƣ giữa các vùng và các tỉnh thành trong cả nƣớc, Đồng Bằng Sông Hồng và Đông Nam Bộ là những vùng có tỉ lệ ngƣời nhập cƣ lớn và số lƣợng tăng nhanh; Bắc Trung Bộ, vùng Nam Trung Bộ và Đồng Bằng Sông Cửu Long là những khu vực có số lƣợng ngƣời xuất cƣ cao và cũng tăng nhanh. Trong các vùng đó thì các thành phố lớn: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dƣơng vv… là những địa phƣơng có số dân nhập cƣ nhiều; Bên cạnh đó kết quả điều tra còn cho thấy sự khác biệt ở góc độ giới liên quan đến vấn đề di cƣ, đó là hiện tƣợng “nữ hóa di cƣ”- nghĩa là hiện tƣợng nữ di cƣ ngày càng phổ biến; Một phát hiện có ý nghĩa khác trong kết quả điều tra đó là độ tuổi di cƣ đa số là những ngƣời trẻ và tập trung ở nhóm từ 15- 29 tuổi. “Điều tra di cư Việt Nam năm 2004” (Tổng cục thống kê, 2005) là cuộc điều tra đầu tiên về di dân mang tầm quốc gia. Cuộc điều tra đƣợc tiến hành chọn mẫu trên 11 tỉnh thành đại diện cho năm khu vực trên toàn quốc.
Mục đích của điều tra là tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến quyết định di dân; Những ảnh hƣởng của di dân tới sự phát triển kinh tế-xã hội của các vùng cũng nhƣ toàn quốc; Kết quả di cƣ tới đời sống ngƣời di cƣ và gia đình; cũng nhƣ đƣa ra những so sánh về tình trạng giữa ngƣời di cƣ và ngƣời không di cƣ tại nơi đến. Kết quả điều tra đƣợc dùng làm cơ sở hoạch định chính sách trong việc quản lý di cƣ và cải thiện các chính sách giúp đỡ nhằm cải thiện 16 z điều kiện sống và giúp ngƣời nhập cƣ dễ hòa nhập tại nơi đến. Điều tra mức sống dân cƣ của Việt Nam năm 1992 và năm 1998 và các điều tra mức sống hộ gia đình ở việt Nam với hai năm một lần từ năm 2002 đến 2010 cũng là những nguồn tài liệu quan trọng góp thêm cái nhìn vào bức tranh di cƣ ở Việt Nam. Đó là việc tập trung phân tích các nguồn tiền ngƣời di cƣ gửi về gia đình, hiệu quả của việc sử dụng các nguồn tiền gửi về ở cộng đồng nơi những ngƣời đi.
Các điều tra cho thấy tác động của vấn đề di cƣ theo thời gian và cũng cung cấp phần nào những thông tin về loại hình di cƣ mùa vụ. Các công trình nghiên cứu với những đề tài và dự án của những tổ chức, các nhóm và những cá nhân về di cƣ mới thực sự đa dạng, đƣợc thực hiện bởi các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau và những đơn vị sự nghiệp trong nƣớc cũng nhƣ đƣợc các tổ chức phi chính phủ tài trợ. Điểm yếu của những nghiên cứu này là về qui mô nội dung nghiên cứu thƣờng nhỏ và địa bàn nghiên cứu thƣờng hẹp nên tính đại diện và khái quát không cao. Tuy nhiên, đó lại là những nghiên cứu sâu, bám sát từng vấn đề cụ thể nên mỗi nghiên cứu đó sẽ nhƣ một lát cắt cho một bức tranh toàn diện về di cƣ.
Có thể phân loại các nghiên cứu về di cƣ ở Việt Nam trong những năm qua dựa trên các hƣớng tiếp cận và những chủ đề nghiên cứu khác nhau. Với mỗi chủ đề và góc tiếp cận khác nhau các nhà nghiên cứu, học giả đã vận dụng những mô hình lý thuyết khác nhau trong quá trình lý giải và phân tích. Điều này đã củng cố và làm phong phú thêm hệ thống những lý thuyết nghiên cứu về di cƣ nói riêng và trong nghiên cứu khoa học xã hội nói chung. Trƣớc hết phải kể đến các nghiên cứu về di dân tiếp cận dựa trên việc phân tích các đặc điểm nhân khẩu học của ngƣời di cƣ.
Về độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn của ngƣời di cƣ. Các tiếp cận này phải kể đến các cuộc nghiên cứu nhƣ: Điều tra di cƣ Việt Nam, những thống kê về mức sống ngƣời dân của Tổng cục thống kê, điều tra dân số và nhà ở. Các tài lệu nghiên cứu chỉ ra rằng độ tuổi các nhóm di cƣ là khá trẻ và có xu hƣớng ngày càng trẻ hóa. Kết quả điều tra di cƣ Việt Nam 17 z năm 2004 cho thấy hơn 33,5% phụ nữ di cƣ trong độ tuổi từ 20-24 tuổi so với 20% trong nhóm độ tuổi từ 25-29 tuổi.
So sánh về cấu trúc độ tuổi di cƣ trong hai cuộc tổng điều tra dân số năm 1999 và 2009 cũng thấy sự trẻ hóa trong di cƣ. Các thống kê cũng chỉ ra rằng nhóm ngƣời chƣa kết hôn có xu hƣớng di cƣ nhiều hơn nhóm ngƣời đã lập gia đình; Về trình độ học vấn của ngƣời di cƣ là tƣơng đối thấp. Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, có 58% phụ nữ di cƣ mới học hết trung học cơ sở, có 2,3% nam và 3% nữ là không biết chữ. Những nghiên cứu này cung cấp những nét chung cơ bản về đặc điểm nhân khẩu học của ngƣời di cƣ.
Dƣới góc độ của việc quản lý và hoạch định chính sách, nhiều nghiên cứu về di cƣ đƣợc tiến hành. Mục tiêu của những nghiên cứu này là hƣớng tới tìm ra những biện pháp nhằm quản lý và kiểm soát các hoạt động di cƣ, đảm bảo trật tự xã hội cũng nhƣ các vấn đề an sinh. Di cƣ nông thôn-đô thị là đề tài đƣợc chú ý nhiều nhất bởi lẽ luôn tạo ra những khó khăn về mặt quản lý, đặc biệt là ở các đô thị lớn. Các nghiên cứu thƣờng chỉ ra các nguyên nhân của di cƣ; Những tác động của di cƣ, thƣờng là những ảnh hƣởng tiêu cực tại nơi đến; cũng nhƣ việc phân tích quá trình thích nghi của ngƣời di cƣ vv.Về cơ bản những nghiên cứu dạng này có xu hƣớng đồng ý cần có những biện pháp thắt chặt quản lý nhằm ngăn cản các làn sóng di cƣ vào đô thị, coi ngƣời di cƣ là tác nhân chủ yếu gây ra những bất ổn xã hội tại nơi đến.
Hàng loạt các công trình tiêu biểu phải kể đến nhƣ: Nghiên cứu về di dân theo mùa vụ (Lê Đăng Giảng, 1995) là đề tài chỉ ra nguyên nhân của di cƣ theo mùa vụ là để tìm kiếm việc làm, tăng thêm nguồn thu nhập, đảm bảo cuộc sống. Đối tƣợng của di cƣ theo mùa vụ là những ngƣời nông dân, và nhịp điệu di cƣ diễn ra theo mùa vụ, tức vào những lúc nông nhàn và không bận việc, những ngƣời nông dân lại di cƣ tìm việc làm. Việc di cƣ theo mùa vụ nhƣ vậy đã đề lại rất nhiều những hậu quả xã hội.