CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Lý do chọn đề tài Vật liệu là chất hoặc hợp chất được con người dùng để làm ra những sản phẩm khác. Vật liệu là đầu vào trong một quá trình sản xuất hoặc chế tạo. Trong công nghiệp, vật liệu là những sản phẩm chưa hoàn thiện và thường được dùng để làm ra các sản phẩm cao cấp hơn.
Vào những thời kỳ đầu của xã hội loài người, dụng cụ đá được sử dụng nhiều hơn bất kỳ một loại vật liệu (mềm hơn) nào khác để thực hiện các nhu cầu hàng ngày của con người và vào thời đó, con người đã biết làm ra các loại hình dáng của đá chỉ bằng việc thực hiện ma sát chúng (phương pháp gia công chủ yếu) để tiện cho việc săn bắt… Càng ngày xã hội loài người càng phát triển, cùng với đó vật liệu cũng được phát hiện và chế tạo đa dạng, ví dụ như: composite, ceramic, polymer… Trong đó hợp kim, kim loại là hai loại vật liệu góp phần phát triển xã hội ngày càng nhanh chóng như ngày nay. Và đi kèm với sự phát triển của các loại vật liệu, thì những phương pháp gia công cũng từ đó mà phát triển theo, ví dụ như: tiện, bào, phay chuốt… Do tính chất và khả năng ứng dụng vào đời sống của vật liệu rất đa dạng nên việc nghiên cứu về vật liệu là hết sức cần thiết. Đặc biệt trong các ngành như: chế tạo máy móc, xây dựng… việc đòi hỏi cao vật liệu về các tiêu chuẩn kỹ thuật để đáp ứng được khả năng của các ngành này rất khắt khe. Vì thế các ngành khoa học vật liệu, công nghệ vật liệu, kỹ thuật vật liệu ngày càng phát triển rộng rãi.
Với thời đại công nghiệp hiện nay và sự đa dạng của các lĩnh vực, ngành nghề; đòi hỏi ở vật liệu phải có nhiều tính chất khác nhau. Các phương pháp gia công vật liệu ngày càng đa dạng và hiện đại. Các bài nghiên cứu về vật liệu và phương pháp gia công sẽ trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản của các loại vật liệu chính: tinh thể, kim loại, hợp kim…cùng với đó là tính chất của chúng, và các biện pháp gia công vật liệu phổ biến ngày nay. Với lượng kiến thức của các bài nghiên cứu mang lại sẽ giúp cho sinh viên có thể lựa chọn được những loại vật liệu, những biện pháp gia công phù hợp với nhu cầu sử dụng Để đáp ứng nhu cầu đó và theo sự thay đổi chương trình đào tạo 132 tín chỉ, nhóm chúng em đã lựa chọn nghiên cứu đề tài về môn kỹ thuật chế tạo để đáp ứng nhu cầu chung của nhà trường (Đại học Sư phạm Kỹ thuật TPHCM) 1 Luan van Bài nghiên cứu sẽ cung cấp cho các bạn sinh viên những kiến thức về các loại vật liệu, cụ thể hơn là về tính chất, các dạng thù hình, công dụng, các khái niệm cơ bản và qua đó đọc hiểu được các ký hiệu vật liệu cơ khí theo TCVN, tiêu chuẩn quốc tế.
Không chỉ về vật liệu, bài nghiên cứu còn cung cấp thông tin về các phương pháp tạo hình kim loại, các phương pháp gia công phổ biến để giúp cho sinh viên có cái nhìn tổng thể về vật liệu và lựa chọn những phương pháp gia công thích hợp cho từng loại vật liệu 1. Mục tiêu đề tài Nghiên cứu đề tài theo nhu cầu chung của nhà trường để đáp ứng được các chuẩn của ngành học. Phương pháp nghiên cứu Gồm các phương pháp chính như sau: Phương pháp tìm, đọc, hiểu: Tìm kiếm các giáo trình, luận án, bài viết liên quan đến nội dung nghiên cứu. Dịch thuật các tài liệu, bài báo, giáo trình nước ngoài liên quan đến nội dung nghiên cứu.
Phương pháp tổng hợp: Chắt lọc các nội dung cần thiết và phù hợp với yêu cầu của nội dung đề tài Tổng hợp tài liệu và đảm bảo đạt được độ chính xác cao. Phương pháp tham khảo tài liệu: tiến hành thu thập tài liệu, báo chí, tập chí có nội dung liên quan, phân tích và chọn lọc ra nội dung phù hợp với đề tài. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Nguyên tắc, quy định về bài nghiên cứu khoa học Tài liệu về vật liệu chế tạo, phương pháp gia công có liên quan Các tính chất, tạo hình của kim loại. Phạm vi nghiên cứu: Bài nghiên cứu đáp ứng kiến thức cơ bản cho các ngành trong Khoa Cơ khí Chế tạo máy – Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TPHCM 2 Luan van CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.
Khái niệm cơ bản 2. Tài liệu nghiên cứu Một trong những công cụ quan trọng để phục vụ cho quá trình nghiên cứu đó chính là tài liệu nghiên cứu. Tài liệu nghiên cứu là những học liệu dùng cho quá trình nghiên cứu. Việc sử dụng tài liệu nghiên cứu nhằm mục tiêu lĩnh hội tri thức một cách nhanh và đầy đủ nhất, và nó cũng giữ một vị trí đáng kể trong việc nắm vững kiến thức và phát huy tính tích cực hoạt động trí tuệ của người nghiên cứu.
Các loại tài liệu nghiên cứu Tài liệu nghiên cứu được chia thành nhiều loại tuỳ theo tính chất hay chức năng riêng biệt. Tài liệu nghiên cứu có thể tồn tại ở dạng tài liệu in (bản cứng) hoặc được số hóa hoặc tài liệu điện tử (tài liệu dạng file trên máy tính). Thông thường, đối với sinh viên, có những loại tài liệu học tập sau đây: a. Tài liệu nghiên cứu khoa học: Là những tài liệu nghiên cứu cơ bản, chung, chính thống, bắt buộc đối với mọi sinh viên khi nghiên cứu.
Tài liệu giáo dục (bao gồm cả tài liệu điện tử, tài liệu dịch; sau đây gọi tắt là tài liệu nghiên cứu khoa học) là một dạng của tài liệu nghiên cứu chính dùng cho giáo viên và học sinh trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu, có nội dung phù hợp với chương trình đào tạo đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định. Cấu trúc của tài liệu nghiên cứ khoa học Tài liệu nghiên cứu có cấu trúc gồm: - Trang bìa - Trang bìa phụ - Lời nói đầu: Trình bày đối tượng sử dụng, mục đích yêu cầu khi sử dụng, cấu trúc nội dung, điểm mới của tài liệu nghiên cứu, hướng dẫn cách sử dụng, phân công nhiệm vụ của tác giả biên soạn. - Nội dung chính: Trình bày các chương, mục, tiểu mục và nội dung chi tiết của từng chương, mục, tiểu mục, nội dung thảo luận xêmina, câu hỏi ôn tập, bài tập, các nhiệm vụ tự nghiên cứu và tài liệu nghiên cứu từng chương. - Tài liệu tham khảo 3 Luan van - Mục lục Ngôn ngữ dùng để biên soạn tài liệu nghiên cứu - Ngôn ngữ dùng để biên soạn tài liệu là tiếng Việt.
- Tài liệu một số môn học của cơ sở giáo dục đại học thực hiện chươngtrình tiên tiến, chương trình đào tạo ngôn ngữ và văn hóa nước ngoài, chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài và một số chương trình đào tạo khác giảng dạy bằng tiếng nước ngoài được biên soạn bằng tiếng nước ngoài. Hình thức trình bày tài liệu Soạn thảo văn bản - Tài liệu sử dụng phông chữ Times New Roman; cỡ chữ 13 hoặc 14 của hệ soạn thảo Winword hoặc tương đương; mật độ chữ bình thường, không nén hoặc kéo dãn khoảng cách giữa các chữ; dãn dòng đặt ở chế độ 1,5 lines; lề trái: 3,5 cm; lề trên: 2,5cm; lề dưới: 3,0cm; lề phải: 2,0cm. Số trang được đánh ở giữa, phía dưới mỗi trang giấy. Không gạch ngang hoặc để các tít ở đầu mỗi trang.
Nếu có bảng biểu, hình vẽ trình bày theo chiều ngang khổ giấy thì đầu bảng là lề trái của trang, (nên hạn chế trình bày theo cách này). - Bản thảo giáo trình nộp để Nhà trường tổ chức xuất bản được in trên một mặt giấy trắng khổ A4 (210x297mm). Mỗi tiết được viết trong khoảng 1,5 đến 2 trang đánh máy, trường hợp đặc biệt có thể nhiều hơn nhưng không quá 4 trang. Chương, mục, tiểu mục - Các chương được ghi bằng chữ số Arập, dưới chương là các mục gồm hai chữ số, dưới mục là nhóm tiểu mục gồm 3 chữ số, dưới nhóm tiểu mục là các tiểu mục gồm 4 chữ số.
Các tiểu mục được trình bày và đánh số thành nhóm chữ số, nhiều nhất gồm 4 chữ số với số thứ nhất chỉ số chương (ví dụ: 4.1 chỉ tiểu mục 1 nhóm tiểu mục 2 mục 1 chương 4). Tại mỗi nhóm tiểu mục phải có ít nhất hai tiểu mục, nghĩa là không thể có tiểu mục 2.1 mà không có tiểu mục 2. - Quy định kích thước (theo font chữ unicode) của các chương, mục, tiểu mục được thể hiện trong Bảng 1. Bảng biểu, hình vẽ, phương trình, công thức.
- Việc đánh số bảng biểu, hình vẽ, phương trình, công thức. phải gắn với số chương: ví dụ Hình 3.4 có nghĩa là hình thứ 4 trong Chương 3. Mọi đồ thị, bảng biểu lấy từ các nguồn khác phải được trích dẫn đầy đủ, ví dụ “Nguồn: Tổng cục thống kê 4 Luan van 2010”. Nguồn được trích dẫn phải được liệt kê chính xác trong danh mục tài liệu tham khảo.
Đầu đề của bảng biểu ghi phía trên bảng, đầu đề của hình vẽ ghi phía dưới hình. Thông hường những bảng ngắn và đồ thị nhỏ phải đi liền với phần nội dung đề cập tới các bảng và đồ thị này. Các bảng dài hoặc hình vẽ lớn có thể để ở những trang riêng nhưng cũng phải tiếp theo ngay phần nội dung đề cập tới bảng hoặc hình vẽ. - Các bảng rộng vẫn nên trình bày theo chiều đứng dài 297mm của trang giấy, chiều rộng của trang giấy có thể hơn 210mm.
Chú ý gấp trang giấy này (minh hoạ ở Hình 1) sao cho số và đầu đề của hình vẽ hoặc bảng vẫn có thể nhìn thấy ngay mà không cần mở rộng tờ giấy. Cách làm này cũng giúp để tránh bị đóng vào gáy mép gấp bên trong hoặc xén rời mất phần mép gấp bên ngoài. Tuy nhiên nên hạn chế sử dụng các bảng quá rộng này. - Trong mọi trường hợp, 4 lề bao quanh phần văn bản và bảng biểu vẫn như quy định ở trên.
- Trong tài liệu nghiên cứu các hình vẽ phải được vẽ sạch sẽ bằng mực đen để có thể sao chụp lại, có đánh số và ghi đầy đủ đầu đề; cỡ chữ phải bằng cỡ chữ trong văn bản quy định. Khi đề cập đến các bảng biểu và hình vẽ phải nêu rõ số của hình và bảng biểu đó, ví dụ “…được nêu trong Bảng 4.1” hoặc “(xem Hình 3.2)” mà không được viết “. được nêu trong bảng dưới đây” hoặc “trong đồ thị của sau”.