CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG CHO HỘ NGHÈO 1. C sở lý luận ề nghèo đói à tín d ng ngân hàng 1. Một số vấn đề về nghèo đói 1. Khái niệm về nghèo, hộ nghèo Nghèo: Đói nghèo là một hiện tượng kinh tế xã hội mang tính chất toàn cầu tồn tại ở hầu hết các quốc gia nhất là các nước đang phát triển.
Ngân hàng thế giới (2011) cho rằng nghèo được chia thành các mức khác nhau đó là nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo có nhu cầu tối thiểu: + Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo không có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, mặc, ở, đi lại. + Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét. + Nghèo có nhu cầu tối thiểu: Đây là tình trạng một bộ phận dân cư có những đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc, đủ ở và một số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu. Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thoả mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
Một cách hiểu khác: Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo. Nhưng ngưỡng nghèo còn ph thuộc vào đặc điểm c thể của từng địa phương, từng thời kỳ c thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội c thể của từng địa phương hay từng quốc gia. - Khái niệm về hộ đói: Hộ đói là một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống hay nói cách khác đó là một bộ phận dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa, thường xuyên phải vay nợ và thiếu khả năng trả nợ. - Khái niệm về hộ nghèo: Hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ thoả mãn một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn 6 mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
Đói nghèo tính theo đầu người là số lượng những cá nhân sống trong các hộ gia đình ở một quốc gia hoặc một khu vực, mà thu nhập hay mức tiêu dùng của họ ở dưới một ngưỡng đói nghèo c thể. Đói nghèo tính theo đầu người là thước đo chính xác về số lượng người nghèo (UNDP, 2012). Để ph c v cho công tác nghiên cứu và thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Việt Nam, theo chiến lược xóa đói giảm nghèo năm 00 Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do AESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/199 đưa ra quan điểm về đói nghèo như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương”. Theo Quyết định 59/ 015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì chuẩn hộ nghèo áp d ng cho giai đoạn 2016 - 2020 như sau: “Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 700.000 đồng/người/tháng (từ 2.000 đồng/người/năm) trở xuống.
Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 900.000 đồng/người/tháng (từ 10.000 đồng/người/năm) trở xuống”. Thông tư / 01 /TT-BLĐTBXH hướng dẫn các tiêu chí để xác định hộ nghèo như sau: “Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người/tháng bằng hoặc thấp hơn chuẩn nghèo theo quy định của pháp luật. Hộ nghèo thuộc chính sách giảm nghèo là hộ nghèo, có ít nhất một thành viên trong hộ còn khả năng lao động” 1. Tiêu chí để xác định nghèo đói Việc xác định công c để lượng hóa tỷ lệ nghèo đói, số lượng người nghèo đói một phần còn mang tính chủ quan và có nhiều điểm khác nhau.
Ngay cả trong một quốc gia cũng có nhiều tiêu chuẩn khác nhau. - Tiêu chí đánh giá đói nghèo quốc tế: Theo chuẩn quốc tế, đói nghèo được chia thành hai loại. Đói nghèo ở mức thấp gọi là đói nghèo về lương thực, 7 thực phẩm. Đói nghèo thứ hai ở mức cao hơn gọi là đói nghèo chung (bao gồm cả mặt hàng lương thực, thực phẩm và chi lương thực, thực phẩm).
Ở Việt Nam, chuẩn nghèo đói được phân theo chuẩn nghèo quốc gia, dựa vào thu nhập bình quân khẩu/tháng. Dựa vào chỉ tiêu tổng hợp, tùy theo từng địa phương, nước ta còn phân các nhóm hộ ra nhiều mức khác nhau, nhưng phổ biến là: hộ đói, nghèo, trung bình, khá và giàu. Do mức sống của người dân ngày càng tăng, cùng với định hướng chung là từng bước tiếp cận với các nước trong khu vực về xóa đói giảm nghèo nên chuẩn nghèo của Việt Nam qua các giai đoạn có sự thay đổi tăng cao hơn. * Tiêu chí xác định hộ nghèo giai đoạn 2011 - 2015: Theo Quyết định số 09/ 011/QĐ - TTg của thủ tướng chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp d ng cho giai đoạn 2011-2015.
- Chuẩn nghèo: Đối với khu vực nông thôn: Thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng hoặc .000 đồng/người/năm trở xuống là hộ nghèo. Đối với khu vực thành thị: Thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng hoặc 6.000 đồng/người/năm trở xuống là hộ nghèo. - Chuẩn cận nghèo: Đối với khu vực nông thôn: Thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng đến 5 0.000 đồng/người/tháng là hộ cận nghèo. Đối với khu vực thành thị: Thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/người/tháng đến 650.000 đồng/người/tháng là hộ cận nghèo.
*Tiêu chí xác định hộ nghèo giai đoạn 2016 - 2020: Theo quyết định số 59/ 015/QĐ - TTg của thủ tướng chính phủ ngày 19/11/2015 về việc ban hành chuẩn nghèo áp d ng cho giai đoạn 2016 – 2020. - Chuẩn nghèo: Đối với khu vực nông thôn: Thu nhập bình quân từ 700.000 đồng/người/tháng hoặc 8.000 đồng/người/năm trở xuống là hộ nghèo. 8 Đối với khu vực thành thị: Thu nhập bình quân từ 900.000 đồng/người/tháng hoặc 10.000 đồng/người năm trở xuống là hộ nghèo. - Chuẩn cận nghèo: Đối với khu vực nông thôn: Thu nhập bình quân từ 1.000 đồng/người/tháng là hộ cận nghèo.
Đối với khu vực thành thị: Thu nhập bình quân từ 1.000 đồng/người/tháng là hộ cận nghèo. Khái quát về tín dụng 1. Khái niệm của tín dụng Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam: “Tín dụng là một phạm trù kinh tế thể hiện giữa người đi vay và người cho vay. Trong quan hệ này người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho vay cho người đi vay trong một thời gian nhất định.
Đến kỳ hạn trả nợ người đi vay có trách nhiệm hoàn trả toàn bộ số tiền hoặc hàng hoá đã cho vay, có kèm hoặc không kèm một khoản lãi” [32]. Căn cứ theo khoản 01 Điều 03 của Quy chế cho vay của Tổ chức Tín d ng đối với khách hàng: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Luật các tổ chức tín d ng đã được bổ sung, sửa đổi năm 010 qui định c thể hoạt động tín d ng và cấp tín d ng của tổ chức tín d ng như sau: “Hoạt động tín d ng là việc tổ chức tín d ng sử d ng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín d ng. Cấp tín d ng là việc tổ chức tín d ng thoả thuận để khách hàng sử d ng một khoản tiền với nguyên tắc hoàn trả bằng các nghiệp v cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp v khác” [12].
Tín d ng là một phạm trù kinh tế và cũng là một sản phẩm của nền sản xuất hàng hoá. Nó tồn tại song song và phát triển cùng với nền kinh tế hàng hoá và là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển lên những giai đoạn cao hơn. Tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế-xã hội, đã có 9 nhiều khái niệm khác nhau về tín d ng được đưa ra. Song khái quát lại có thể hiểu tín d ng theo khái niệm cơ bản sau: “Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thoả thuận.
Mối quan hệ giao dịch này thể hiện các nội dung sau: - Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định. Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật như: hàng hoá, máy móc, thiết bị, bất động sản. - Người đi vay chỉ được sử d ng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn sử d ng theo thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay. - Giá trị hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay ban đầu hay nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần lợi tức (lãi vay).
Tóm lại, tín d ng ngân hàng là mối quan hệ tín d ng giữa một bên là ngân hàng với một bên là các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay, hay nói cách khác, ngân hàng là một trung gian tài chính luân chuyển vốn từ nơi tạm thừa vốn sang nơi thiếu. Lãi suất của khoản vay do ngân hàng ấn định cho khách hàng vay là mức lợi tức mà khách hàng phải trả trong suốt khoản thời gian tồn tại của khoản vay [10]. Các hình thức hoạt động tín dụng Tín d ng bao gồm các hình thức: cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bão lãnh ngân hàng và các nghiệp v cấp tín d ng khác, trong đó, hoạt động cho vay là hoạt động sinh lời chủ yếu của các NHTM [31].