Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học về di truyền trong chăn nuôi lợn 1. Cơ sở khoa học của việc cho lai tạo giữa lợn đực rừng và lợn nái lai (♂ Thái Lan x nái địa phương Pác Nặm) Lai giống là phương pháp nhân giống bằng cách cho con đực giống và cái giống thuộc hai quần thể khác nhau phối giống với nhau. Hai quần thể này có thể là hai dòng, hai giống hoặc hai loài khác nhau, do vậy đời con không còn là dòng, giống thuần mà là con lai giữa hai dòng, giống khởi đầu là bố mẹ của chúng.
Ví dụ: cho lợn đực Yorkshire phối giống với lợn cái Móng Cái, đời con là Yorkshire x Móng Cái. - Vai trò tác dụng của lai giống: Lai giống có hai tác dụng chủ yếu. Một là tạo được ưu thế lai ở đời con về một số tính trạng nhất định. Các tác động cộng gộp là nguyên nhân của hiện tượng sinh học này.
Hai là làm phong phú thêm bản chất di truyền ở thế hệ lai bởi vì con lai có được những đặc điểm di truyền của giống khởi đầu, người ta gọi đó là tác dụng phối hợp. Điều này có nghĩa là lai giống sử dụng được tác động cộng gộp các nguồn gen ở thế hệ bố mẹ. + Ưu thế lai Khái niệm ưu thế lai được đề xuất bởi Shull (1914). [40] Ưu thế lai là hiện tượng con lai có sức sống, sức chống đỡ bệnh tật và năng suất cao hơn mức trung bình của thế hệ bố mẹ.
Mức độ ưu thế lai của một tính trạng được tính bằng công thức sau: 1 / 2( AB + BA) − 1 / 2( A + B) H (%)= x 100 1 / 2( A + B) Trong đó: H: ưu thế lai AB : giá trị kiểu hình trung bình của con lai bố A, mẹ B BA: giá trị kiêu hình trung bình của con lai bố B, mẹ A A: giá trị trung bình của dòng (giống) A B: giá trị trung bình của dòng (giống) B n 5 Cần phân biệt 3 kiểu ưu thế lai sau: Ưu thế lai cá thể: là ưu thế lai do kiểu gen của chính con vật gây nên. Ưu thế lai của mẹ: là ưu thế lai do kiểu gen mà mẹ con vật gây ra thông qua điều kiện ngoại cảnh cung cấp cho nó. Chẳng hạn, nếu bản thân mẹ là con lai, thông qua sản lượng sữa, khả năng nuôi con khéo. mà con lai có được ưu thế này.
Ưu thế lai của bố: ưu thế lai của bố không bằng ưu thế lai của mẹ. Có rất ít tính trạng có được ưu thế lai của bố, song cũng có thể thấy rằng, khả năng thụ thai, tình trạng sức khỏe của con đực lai tạo nên ưu thế lai cho đời con của nó. Các tính trạng liên quan đến khả năng nuôi sống và khả năng sinh sản có ưu thế lai cao nhất. Các tính trạng có hệ số di truyền thấp thường có ưu thế lai cao, vì vậy để cải tiến các tính trạng này, so với chọn lọc, lai giống là giải pháp nhanh hơn, hiệu quả hơn.
Hai quần thể vật nuôi càng khác biệt với nhau về di truyền bao nhiêu thì ưu thế lai thu được khi lai giữa chúng càng lớn bấy nhiêu. Ưu thế lai cao nhất ở F1, ưu thế lai ở thế hệ F2 ( giao phối giữa F1 x F1, hoặc F1 với dòng bố, mẹ khởi đầu chỉ bằng 1/2 ưu thế lai của F1. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái 1. Đặc điểm sinh lý của lợn nái hậu bị Lợn nái khi thành thục về tính sẽ xuất hiện các triệu chứng động dục và kèm theo quá trình rụng trứng.
Đồng thời lợn nái hậu bị vẫn tiếp tục sinh trưởng đề thành thục về thể vóc. Chu kỳ động dục của lợn nái trung bình là 21 ngày (biến động từ 18-25 ngày). Chu kỳ của lợn nái phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau: - Ảnh hưởng của giống: Giống khác nhau có chu kỳ động dục khác nhau: Lợn Ỉ, từ 19 - 21 ngày lợn Móng Cái từ 18 - 25 ngày. - Ảnh hưởng của tuổi: Nái tơ thì có chu kỳ tính thường ngắn hơn lợn nái trưởng thành.
Theo Kralling, lợn nái ở lứa đẻ thứ 2, thứ 3 thì chu kỳ tính trung bình là 20,8 ngày, lứa 6 -7 là 21,5 ngày; lứa 8- 9 là 22,4 ngày. Khi theo dõi sinh sản trên lợn Ỉ thấy ở lứa thứ nhất chu kỳ tính 19 ngày, lứa thứ 2 là 20 ngày (Lưu Kỷ, 1976). n 6 Theo Xignort thời gian động dục lần đầu thường ngắn hơn những lần sau, đồng thời thường không có trứng rụng hoặc trứng rụng rất ít, kích thước tế bào trứng nhỏ hơn những lần sau. - Ảnh hưởng của dinh dưỡng: Nếu dinh dưỡng tốt thì chu kỳ tính ổn định và ngược lại.
- Trong thời gian động dục lợn nái có sự rụng trứng, từ đó liên quan đến sự thụ thai, chửa và đẻ. Trong quá trình động dục, hàm lượng hormone có sự thay đổi qua các ngày trong chu kì động dục của lợn nái. Oestrogen tăng mạnh từ ngày thứ 10 và cao nhất ở ngày 20-21 (29 - 30pg/ml trong huyết thanh), sau đó giảm dần xuống 7-8 ở ngày thứ 8 sau động dục. Hàm lượng prostaglandin trong tĩnh mạch tử cung thay đổi và đột nhiên tăng cao ở ngày 15 (6ng/ml), trong khi bình thường tỷ lệ này 0,3-0,5 ng/ml.
Hormone progesterone tăng tiết từ ngày 1 đến 13 (32 ng/ml) trong huyết thanh và giảm dần và xuống tỷ lệ thấp nhất ở ngày thứ 20, chỉ còn 0,8-1ng/ml. Hàm lượng prolactin huyết thanh thay đổi liên tục từ ngày 13 đến ngày thứ 5 sau chu kì động dục biến động lên đến 15 ng/ml và sau 1 ngày xuống lại 1,5-1,8ng/ml, cứ thay đổi lên xuống theo chu kì 2-3 ngày nhưng ở ngày đầu chu kì từ 2-13 có hàm lượng thấp 1,8ng/ml. FSH và LH thay đổi và khi động dục tỷ lệ FSH/LH = 1/3. Số lượng tế bào trứng rụng trong 1 chu kỳ động dục phụ thuộc vào giống, tuổi, và chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc.
Qua một số nghiên cứu cho biết, lợn nái Móng Cái 15 - 30 tế bào. Số lượng tế bào trứng rụng phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng. Vì vậy người ta thường tăng cường nuôi dưỡng lợn nái trước khi phối giống để tăng số tế bào trứng rụng nhưng đến lúc gần động dục cho giảm tiêu chuẩn ăn, (Kiều Minh Lực và CTV, 2002) [16] 1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát dục của lợn cái Sự thành thục về tính của lợn phụ thuộc nhiều yếu tố.
- Giống: Theo Trần Thế Thông lợn nái Móng Cái thành thục về tính lúc 4 tháng 12 ngày, trọng lượng đạt 12 kg. Trong cùng một giống nhưng khi phối đồng huyết thì thành thục về tính muộn hơn. n 7 - Chế độ dinh dưỡng: Dinh dưỡng là yếu tố rất quan trọng. Trong cùng một giống, nếu dinh dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm và ngược lại.
- Mùa vụ: Theo Smith, lợn con đẻ vào mùa đông thì thành thục sớm hơn về mùa hè. - Sự có mặt của lợn đực: Sự có mặt của lợn đực đã thúc đẩy nhanh sự xuất hiện chu kỳ động dục có trứng rụng, Cole (1970) đã chứng minh rằng nếu hàng ngày chúng ta cho con đực tiếp xúc với lợn nái ở tuổi 165 - 190 ngày đã làm tăng nhanh hoạt động sinh dục của con cái. Khả năng sinh sản của lợn nái và các yếu tố ảnh hưởng - Tuổi động dục lần đầu Là tuổi khi lợn cái có biểu hiện động dục lần đầu tiên. Tuổi động dục lần đầu khác nhau về giống lợn, ví dụ: lợn nội có tuổi động dục lần đầu sớm hơn nái ngoại.
Lợn ỉ động dục ở 3 - 4 tháng tuổi (Trần Văn Phùng, và cs, 2006) [22] - Tuổi phối giống lần đầu Là tuổi tại thời điểm phối giống lần đầu, thông thường người ta chưa tiến hành phối giống cho lợn động dục lần đầu tiên tại thời điểm này lợn chưa thành thục về thể vóc, số lượng trứng rụng còn ít, người ta thường phối giống cho lợn nái kỳ thứ 2 hoặc kỳ thứ 3. vì vậy chúng ta cần theo dõi tránh phối giông sớm hoặc muộn gây tổn thất về kinh tế. - Tuổi đẻ lứa đầu Là tuổi lợn mẹ đẻ lứa đầu tiên. Tuổi đẻ lúa đầu phụ thuộc vào giống và chế độ nuôi dưỡng, ví dụ lợn Mẹo tuổi động hớn đầu tiên lúc 8 tháng tuổi.
(Phạm Hữu Doanh, và cs, 1996) [16] - Số con sơ sinh còn sống đến 24h/lứa đẻ: là chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng. Nó phụ thuộc vào khả năng đẻ nhiều hay ít con của giống, trình độ phối giống của người nuôi dưỡng chăm sóc, và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái chửa. Trong 24 giờ sau khi sinh nhưng con không đạt khối lượng sơ sinh trung bình của giống, dị dạng,. thì sẽ bị loại thải.
Ngoài ra do lợn con chưa nhanh nhẹn bị lợn mẹ đè chết. n 8 - Bình quân số lợn con đẻ ra còn sống/lứa: là tỷ lệ giữa tổng số lợn con đẻ ra còn sống trong 24 giờ kể từ khi lợn nái đẻ xong của tất cả các lứa đẻ trên tổng số lứa đẻ. Số con đẻ ra để lại nuôi: số lợn con đẻ ra còn sống để lại nuôi, đối với lợn ngoại khối lượng lớn hơn 0,8 kg, đối với lợn nội khối lượng lớn hơn 0,3 kg. - Tỷ lệ sống: tỷ lệ sống của lợn con sau 24 giờ là tỷ lệ số lợn con còn sống đến 24 giờ so với số con đẻ ra còn sống.
- Số con cai sữa/ lứa: đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng, quyết định năng suất trong chăn nuôi lợn nái, nó phụ thuộc vào kỹ thuật chăn nuôi lợn con bú sữa, khả năng tiết sữa khả năng nuôi con của lợn mẹ và khả năng hạn chế các yếu tố gây bệnh cho lợn con. Đó là số lợn con còn sống cho đến khi cai sữa, thời gian cai sữa dài hay ngắn phụ thuộc vào trình độ chế biến thức ăn và kỹ thuật nuôi. Trong chăn nuôi đại trà thường cai sữa vào 35 hoặc 42 ngày tuổi. - Số con cai sữa /nái/năm: là chỉ tiêu tổng quát nhất để đánh giá năng suất chăn nuôi lợn nái.
Chỉ tiêu này phụ thuộc vào thời gian cai sữa lợn con và số lợn con cai sữa trong mỗi lứa đe. Nếu cai sữa sớm sẽ tăng số lứa đẻ/nái/năm, và tăng số lượng lợn con cai sữa trong mỗi lứa thì số lượng lợn con cai sữa/nái/năm cao và ngược lại. Số lượng lợn con cai sữa/nái/năm là tỷ lệ giữa tổng số lợn con cai sữa trong năm so với tổng số lợn nái sinh sản trong năm.