Tổng quan luận án

Luận án tập trung vào vấn đề xác định sức chịu tải của cọc khoan nhồi khi thi công vào tầng đá phong hóa nứt nẻ — một loại địa tầng đặc trưng tại khu vực miền Trung Việt Nam, đặc biệt là tỉnh Quảng Trị. Vấn đề cấp thiết xuất phát từ thực trạng các tiêu chuẩn thiết kế hiện hành tại Việt Nam — bao gồm TCVN 10304:2014, tiêu chuẩn thiết kế cầu 22 TCN-272-05, móng cọc 205-98 của Bộ Xây dựng, và trước đó là AASHTO-LRFD 1998 — chưa đề cập cụ thể đến phương pháp tính sức kháng của cọc khi đi qua lớp đá phong hóa nứt nẻ có tính chất trung gian giữa đất và đá, gọi là IGM (Intermediate Geological Material). Khi gặp tầng địa chất này, kỹ sư thiết kế phải xử lý theo quy ước đất dính hoặc đất cát, dẫn đến kết quả không phản ánh đúng ứng xử thực của nền.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định rõ: tiêu chuẩn TCVN 11823-10:2017 (dựa trên AASHTO-LRFD 2010) đã đưa vào định nghĩa lớp IGM và có lý thuyết tính toán tương ứng, nhưng trong thực tế các tư vấn thiết kế chưa áp dụng nhiều, và chưa có nghiên cứu thực nghiệm hiện trường nào tại Việt Nam kiểm chứng sức chịu tải của cọc khoan nhồi trong tầng đá phong hóa nứt nẻ.

Mục đích nghiên cứu: Dựa vào nghiên cứu thực nghiệm và phương pháp phần tử hữu hạn để đánh giá sức chịu tải của cọc khoan nhồi đặt vào tầng phong hóa nứt nẻ, áp dụng cho khu vực miền Trung và Quảng Trị.

Đối tượng nghiên cứu: Sức chịu tải của cọc khoan nhồi khi cọc thi công vào tầng đá phong hóa nứt nẻ ở khu vực miền Trung.

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thực nghiệm và mô hình để xác định sức chịu tải của cọc khoan nhồi khi thi công vào tầng đá phong hóa nứt nẻ tại khu vực miền Trung, tập trung cho khu vực Quảng Trị. Địa tầng đại diện là IGM loại III — đá phiến sét rắn chắc có cường độ nén một trục không nở hông trong khoảng 4,7 ≤ qu ≤ 23,9 MPa, chiều dày từ 4 đến 25 m, phủ trên lớp đất phủ mỏng 1–5 m.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả điểm qua các hướng nghiên cứu trong nước và quốc tế theo hai nhánh chính: nghiên cứu lý thuyết tính toán và nghiên cứu thực nghiệm đo biến dạng thân cọc.

Trong nước:

  • Nhóm tác giả Nguyễn Minh Hải và Trần Thanh Quang thực hiện thí nghiệm nén tĩnh kết hợp đo biến dạng dọc thân cọc tại công trình Royal Tower, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh, áp dụng phương pháp phân tích ngược do Fellenius đề xuất.
  • Hoàng Thanh Hải đề xuất quy trình xác định quy luật t-z của cọc và xử lý số liệu biến dạng dọc thân cọc theo phương pháp xác định mô đun đàn hồi pháp tuyến cho một số cọc khoan nhồi tại Hà Nội.
  • Lê Phương phân tích đường truyền tải trọng trong cọc bằng thí nghiệm nén tĩnh kết hợp đo biến dạng dọc thân cọc, sử dụng thiết bị Geokon Model 491 và kiểm chứng bằng phần mềm Plaxis 3D.
  • Vũ Công Ngữ giới thiệu khái niệm đất IGM dựa vào tiêu chuẩn Mỹ nhưng chưa trình bày phương pháp dự tính sức chịu tải của cọc khoan nhồi cho lớp này.

Điểm chung của các nghiên cứu trong nước là dừng lại ở việc thiết lập đường truyền tải trong cọc, chưa so sánh với các phương pháp tính toán giải tích hay phần tử hữu hạn, và chưa thực nghiệm trong điều kiện đá phong hóa nứt nẻ.

Quốc tế — thực nghiệm cọc có đo biến dạng thân:

  • Thí nghiệm tại Ấn Độ sử dụng thiết bị đo biến dạng Model 491 và phân tích phần mềm Plaxis.
  • Thí nghiệm tại Nashville (Mỹ) với cọc đặt trong tầng phong hóa nứt nẻ, đo chỉ số RQD theo độ sâu và cường độ mẫu đá.
  • Thí nghiệm tại Kazakhstan, Malaysia và Đài Loan áp dụng các phương pháp đo mới, trong đó có O-cell và thiết bị đo chuyển vị dọc thân cọc thế hệ mới.

Lý thuyết quốc tế được điểm lại:

  • O'Neill và cộng sự (1996–1999) đề xuất khung tính toán IGM1, IGM2, IGM3 và phương pháp xác định hệ số α, αE, hệ số M; được tích hợp trong FHWA 1999 (Reese và O'Neill).
  • Carter và Kulhawy (1988); Rowe và Armitage (1984, 1987) trên cơ sở thí nghiệm 25 cọc nhồi trong đá đề xuất công thức sức kháng bên thành nhám.
  • Horvath và Kenney (1979) thực nghiệm tại Nam Ontario (Canada) cho thành nhẵn.
  • Abu-Hejleh xây dựng tương quan giữa chỉ số N-SPT và sức kháng ma sát thành bên.
  • Mayne và Harris (1993), Finno và Budyn (2000), Johnston (1989), Gannon và cộng sự (1999), Akai (1997), Marinos (1997) và nhiều tác giả khác đưa ra các định nghĩa IGM theo cường độ nén nở hông và giá trị SPT.
  • CFEM (Canada 1985), Reynolds và Kaderabek (1980), MacVeight (1992) cung cấp thêm các công thức bổ sung.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Thiếu vắng hoàn toàn số liệu thực nghiệm hiện trường về cọc khoan nhồi trong tầng đá phong hóa nứt nẻ tại Việt Nam; thiếu kiểm chứng bằng mô hình số với phần mềm phần tử hữu hạn chuyên dụng; và chưa có đề xuất điều chỉnh các hệ số trong tiêu chuẩn hiện hành phù hợp với điều kiện địa chất miền Trung.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm chính:

Luận án sử dụng khái niệm IGM (Intermediate Geological Material) — lớp địa chất trung gian giữa đất và đá — làm nền tảng lý thuyết xuyên suốt. Theo đó, lớp đá phong hóa nứt nẻ được xử lý đồng thời bằng các nguyên tắc của cơ học đất và cơ học đá. Tiêu chuẩn áp dụng chính là TCVN 11823-10:2017 (dựa trên AASHTO-LRFD 2010) và FHWA 1999 (Reese và O'Neill). Các thông số lý thuyết trung tâm gồm: cường độ nén một trục không nở hông qu, chỉ số chất lượng đá RQD, mô đun đàn hồi khối đá Em, hệ số sức kháng thành bên α và αE, đường cong t-z, và phương pháp phân tích ngược (back-analysis).

Mô hình phân tích lún của cọc trong IGM được O'Neill đề xuất, xác định đường cong tải trọng – độ lún qua các thành phần: độ lún đàn hồi, độ lún trong phạm vi không đàn hồi, và áp lực đơn vị tại mũi cọc. Công thức tính sức kháng mũi theo Carter và Kulhawy (1988) với các hệ số s và m phụ thuộc vào loại đá và mức độ nứt nẻ cũng được khai thác.

Phương pháp nghiên cứu (hỗn hợp lý thuyết – thực nghiệm – số):

Phương pháp lý thuyết: Phân tích và tổng hợp các công thức giải tích tính sức chịu tải theo tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế. Tính toán dự tính sức chịu tải theo phương pháp α của O'Neill, phương pháp FHWA 1999 cho từng loại IGM.

Phương pháp thực nghiệm hiện trường: Thí nghiệm nén tĩnh dọc trục và thí nghiệm nhổ cọc trên cọc khoan nhồi kích thước thật tại cầu Ái Tử (Quảng Trị), có lắp đặt thiết bị đo biến dạng (strain gauges — sister bar) dọc theo lồng cốt thép và thiết bị đo chuyển vị đầu cọc. Thiết bị đo biến dạng do công ty Geokon cung cấp (Model 491). Kết quả đo cho phép vẽ biểu đồ phân bố lực dọc trục, sức kháng ma sát đơn vị theo chiều sâu, và đường cong tải trọng – độ lún tại từng cao độ. Ngoài ra còn thực hiện thí nghiệm siêu âm kiểm tra chất lượng bê tông cọc.

Phương pháp phần tử hữu hạn: Sử dụng phần mềm FB-Pier mô hình hóa sức chịu tải của cọc khoan nhồi trong tầng đá phong hóa nứt nẻ và so sánh đối chứng với kết quả thí nghiệm hiện trường.

Nguồn dữ liệu: Số liệu địa chất thực tế từ trụ lỗ khoan tại cầu Ái Tử (Quảng Trị); số liệu đo biến dạng và chuyển vị từ thí nghiệm nén tĩnh và nhổ cọc; số liệu tổng hợp phân bố đá phong hóa tại Đà Nẵng, Quảng Bình, Quảng Trị từ các công trình cầu thực tế (bảng 1-3 đến 1-5 trong luận án).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về sức chịu tải cọc khoan nhồi trong tầng đá phong hóa nứt nẻ

Chương này trình bày nền tảng tổng quan toàn diện. Phần giới thiệu về cọc khoan nhồi nêu các thông số kỹ thuật phổ biến: đường kính D = 800÷2.500 mm (có thể đến 3.000÷4.000 mm), chiều dài thường 30÷50 m (có thể đến 100 m), yêu cầu độ sụt bê tông 16÷18 cm, thời gian duy trì độ lưu động trên 40 phút. Công nghệ khoan tạo lỗ được hệ thống hóa theo bảng 1-1 gồm các loại chính: khoan vách xoay kiểu xoay tròn, kiểu kẹp lắc, khoan gầu xoay, khoan guồng xoắn, khoan phản tuần hoàn.

Về địa chất khu vực, tác giả tổng hợp số liệu thực tế từ nhiều công trình cầu tại ba tỉnh:

Khu vực Loại đá RQD Chiều dày lớp IGM
Đà Nẵng (Cầu Đỏ QL1A) Phiến sét 0% 24 m
Đà Nẵng (Cầu Hòa Phước) Phiến sét vôi, SPT 70–100 0% 52,5 m
Quảng Trị (Cầu Sông Hiếu) Đá vôi 15–25% 20,5–27,5 m
Quảng Trị (Cầu Ái Tử) Đá bột kết 0% 1,8–5,6 m
Quảng Bình (Cầu Sao Vàng) Đá vôi 10–20% 2,5–7,3 m

Kết luận từ bảng tổng hợp: tầng phủ mỏng 1–5 m, tiếp đến tầng IGM chiều dày 4–25 m với RQD 0–30%, cường độ qu từ 2,5 đến 25 MPa, thuộc IGM loại III theo TCVN 11823-10:2017.

Chương trình bày hệ thống các công thức tính sức kháng thành bên và mũi cọc theo TCVN 11823-10:2017 (công thức 1-1 đến 1-17) và theo FHWA 1999 (công thức 1-18 đến 1-57), bao gồm cả phương pháp tính lún đề xuất bởi O'Neill, xác định hệ số Kf giảm fi để hạn chế độ lún trong giới hạn [S] = 25 mm theo quy phạm Mỹ.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và thực nghiệm đánh giá sức chịu tải cọc khoan nhồi trong tầng đá phong hoá nứt nẻ

Chương này tổng kết các phương pháp xác định sức chịu tải cọc có gắn thiết bị đo dọc thân, cả trong nước lẫn quốc tế. Phần trong nước điểm lại bốn nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Minh Hải – Trần Thanh Quang, Hoàng Thanh Hải, Lê Phương và các ứng dụng O-cell tại Đà Nẵng. Phần quốc tế hệ thống hóa năm bộ thực nghiệm từ Ấn Độ, Nashville (Mỹ), Kazakhstan, Malaysia và Đài Loan.

Nội dung kỹ thuật của chương này tập trung vào nguyên lý đo biến dạng thân cọc: thiết bị đầu đo ứng suất bằng dây rung (strain gauges – sister bar), phương pháp phân tích ngược xác định đường truyền tải, và hệ thống bảng liệt kê thiết bị cần thiết (bảng 2-2: tổng hợp thiết bị đo cho một cọc khoan nhồi). Phần cuối chương trình bày bố trí thí nghiệm hiện trường, sơ đồ lắp đặt thiết bị đo theo lồng cốt thép (hình 2-33 đến 2-40), và phương án bố trí cả trên mặt đứng lẫn mặt bằng.

Chương 3: Nghiên cứu thực nghiệm hiện trường nén tĩnh và nhổ cọc của cọc khoan nhồi đặt trong tầng đá phong hóa nứt nẻ

Đây là chương trọng tâm của luận án. Trước khi thực nghiệm, tác giả tính toán dự tính sức chịu tải theo tiêu chuẩn Việt Nam hiện hành và các tiêu chuẩn nước ngoài, sử dụng bảng 3-1 (sức kháng đơn vị ma sát thành cọc), bảng 3-2 (sức kháng đơn vị mũi cọc), bảng 3-3 (phân loại đá phong hóa theo SPT), và bảng 3-5 (quan hệ giữa chất lượng chung và hằng số vật liệu xác định cường độ phi tuyến của đá).

Thí nghiệm được thực hiện tại cầu Ái Tử, Quảng Trị, với điều kiện địa chất được mô tả qua hình trụ lỗ khoan (hình 3-2). Số lượng cọc thí nghiệm và thiết bị được ghi trong bảng 3-7 và 3-8.

Thí nghiệm nén tĩnh dọc trục: Chu trình gia tải theo bảng 3-9 và quy trình gia tải cụ thể theo bảng 3-10. Kết quả bao gồm biểu đồ sức kháng ma sát dọc theo thành cọc theo độ sâu tại từng cấp tải (hình 3-13), biểu đồ lực tác dụng theo độ sâu (hình 3-14), đường cong tải trọng – độ lún (hình 3-15). Số liệu tổng hợp ghi trong bảng 3-11 (sức kháng ma sát tại lớp đá phong hóa nứt nẻ), bảng 3-12 (kết quả đo lún cọc khoan nhồi).

Thí nghiệm nhổ cọc: Bố trí thiết bị theo hình 3-11, kết quả thực nghiệm theo hình 3-16 (phân bố sức kháng ma sát) và hình 3-17 (đường cong tải trọng – độ lún nhổ cọc). Số liệu tổng hợp trong bảng 3-13 (kết quả đo chuyển vị).

Phân tích ngược: Tác giả so sánh sức chịu tải theo lý thuyết và theo thực nghiệm, lý giải sự khác biệt (bảng 3-14 và 3-15 so sánh kết quả tính theo IGM với kết quả thí nghiệm nén và nhổ cọc tương ứng). Kết quả thí nghiệm siêu âm kiểm tra chất lượng bê tông cọc tại trụ T6 được ghi trong bảng 3-16.

Chương 4: Phân tích sức chịu tải cọc khoan nhồi trong tầng phong hóa nứt nẻ theo phương pháp phần tử hữu hạn và so sánh đối chứng với kết quả nghiên cứu thực nghiệm hiện trường

Chương này lựa chọn và áp dụng phần mềm FB-Pier — phần mềm tính toán cọc theo phương pháp phần tử hữu hạn — để mô hình hóa ứng xử của cọc khoan nhồi trong tầng đá phong hóa nứt nẻ. Bên cạnh FB-Pier, chương cũng trình bày kết quả tính toán bằng phần mềm Geo 5 (hình 4-2 và 4-3).

Mô hình FB-Pier được thiết lập với bốn lớp đất đá, thông số đầu vào theo bảng 4-1 (tham số các lớp đất đá). Quá trình gia tải trong mô phỏng theo hình 4-14. Kết quả tính cho biểu đồ độ lún tại từng vị trí của cọc qua các cấp tải (hình 4-15 và 4-16). Hình 4-18 và 4-19 thể hiện so sánh kết quả tính toán FB-Pier với kết quả thực nghiệm hiện trường.


Kết quả và những đóng góp mới

Tác giả nêu ba đóng góp mới chính:

  1. Về thực nghiệm: Đã thực hiện thí nghiệm nén tĩnh và nhổ cọc tại hiện trường với lắp đặt thiết bị đo biến dạng dọc theo thân cọc — đây là bộ số liệu thực nghiệm đầu tiên thuộc loại này tại Việt Nam cho điều kiện đá phong hóa nứt nẻ. Kết quả xác định được sức kháng ma sát thành bên và sức kháng mũi của cọc khoan nhồi trong tầng IGM, đồng thời đưa ra nhận định về ứng xử thực tế của cọc trong điều kiện này.

  2. Về mô hình số: Đề xuất sử dụng phần mềm FB-Pier để mô hình hóa sự làm việc của cọc khoan nhồi trong tầng đá phong hóa nứt nẻ, và kiểm chứng sự phù hợp của mô hình với kết quả thực nghiệm.

  3. Về tiêu chuẩn thiết kế: Đề xuất điều chỉnh sức kháng thành bên và mũi cọc khoan nhồi khi đặt vào tầng phong hóa nứt nẻ (IGM) trong công thức tính sức chịu tải của Tiêu chuẩn thiết kế cầu đường bộ hiện hành TCVN 11823-10:2017.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Luận án tập trung vào phạm vi địa lý cụ thể là khu vực miền Trung và tỉnh Quảng Trị, với địa tầng IGM loại III (đá phiến sét, đá bột kết). Phương pháp O'Neill trong tính lún chỉ áp dụng cho phần cọc ngàm trong nền IGM, không xét đến tầng đất phủ phía trên. Các điều kiện giả thiết trong mô hình — mặt tiếp giáp đá–cọc dẻo, vật liệu đồng nhất dọc thành hố — là những đơn giản hóa cần kiểm chứng thêm ở điều kiện địa chất khác. Các vấn đề này gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo gồm: mở rộng thực nghiệm sang IGM loại I và II, kiểm chứng ở các khu vực địa chất khác ngoài miền Trung, và phát triển mô hình tính toán kết hợp tầng đất phủ.


Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo trực tiếp cho các nhóm đối tượng sau:

  • Kỹ sư thiết kế cầu và kết cấu móng làm việc tại khu vực miền Trung, đặc biệt tỉnh Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Bình, khi phải xử lý tầng địa chất IGM trong bài toán thiết kế cọc khoan nhồi.
  • Kỹ sư thí nghiệm kiểm tra chất lượng cọc quan tâm đến phương pháp bố trí thiết bị đo biến dạng dọc thân cọc và quy trình phân tích ngược.
  • Nghiên cứu sinh và giảng viên trong các lĩnh vực địa kỹ thuật, xây dựng cầu hầm và kỹ thuật nền móng, đặc biệt về ứng dụng tiêu chuẩn AASHTO-LRFD và FHWA trong điều kiện Việt Nam.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và tư vấn thiết kế tham khảo để hoàn thiện hướng dẫn áp dụng TCVN 11823-10:2017, mục liên quan đến IGM.

Phần đáng tham khảo nhất là chương 3 (quy trình thực nghiệm và kết quả đo biến dạng thân cọc) và chương 4 (thiết lập mô hình FB-Pier và so sánh đối chứng).


Câu hỏi thường gặp

1. Tầng địa chất IGM được xác định như thế nào tại khu vực Quảng Trị trong luận án? Tác giả xác định tầng đại diện cho khu vực miền Trung và Quảng Trị là IGM loại III theo TCVN 11823-10:2017 — đá phiến sét rắn chắc với cường độ nén một trục không nở hông nằm trong khoảng 4,7 ≤ qu ≤ 23,9 MPa, giá trị RQD phổ biến 0–30%, chiều dày lớp từ 4 đến 25 m.

2. Thí nghiệm thực nghiệm được tiến hành ở đâu và bằng phương pháp nào? Thí nghiệm được thực hiện tại cầu Ái Tử, tỉnh Quảng Trị, bao gồm thí nghiệm nén tĩnh dọc trục và thí nghiệm nhổ cọc. Cả hai đều được lắp đặt thiết bị đo biến dạng (strain gauges — Geokon Model 491) dọc theo lồng cốt thép cùng thiết bị đo chuyển vị đầu cọc, cho phép xác định phân bố sức kháng ma sát và sức kháng mũi thực tế.

3. Công thức nào được sử dụng để tính sức kháng ma sát thành bên cọc trong IGM theo tiêu chuẩn hiện hành? Theo TCVN 11823-10:2017, sức kháng ma sát đơn vị thành bên được xác định theo phương trình fSN = αφ·qu (công thức 1-1), trong đó qu là cường độ kháng nén của đá nguyên dạng, φ là hệ số hiệu ứng khe nối xét đến RQD, và α là hệ số thực nghiệm tra từ biểu đồ hình 1-4 với điều kiện góc ma sát φrc = 30 độ.

4. Phần mềm nào được dùng để mô hình hóa cọc trong tầng đá phong hóa nứt nẻ và kết quả so sánh như thế nào? Luận án sử dụng phần mềm FB-Pier (phương pháp phần tử hữu hạn). Mô hình được thiết lập với bốn lớp đất đá, thông số đầu vào theo bảng 4-1. Kết quả so sánh tính toán FB-Pier với kết quả thực nghiệm hiện trường được thể hiện qua biểu đồ hình 4-18 và 4-19. Phần mềm Geo 5 cũng được sử dụng như một công cụ đối chiếu bổ sung.

5. Luận án đề xuất điều chỉnh gì đối với tiêu chuẩn thiết kế cầu hiện hành? Một trong ba đóng góp mới của luận án là đề xuất điều chỉnh các giá trị sức kháng thành bên và mũi cọc khoan nhồi khi đặt vào tầng phong hóa nứt nẻ (IGM) trong công thức tính sức chịu tải của Tiêu chuẩn thiết kế cầu đường bộ TCVN 11823-10:2017, dựa trên kết quả đo thực nghiệm và phân tích ngược tại hiện trường.


Kết luận

Luận án của tác giả Lê Đức Tiến (Trường Đại học Giao thông Vận tải, 2019) giải quyết một khoảng trống nghiên cứu có tính thực tiễn cao trong lĩnh vực địa kỹ thuật và xây dựng cầu tại Việt Nam: xác định thực nghiệm sức chịu tải của cọc khoan nhồi trong tầng đá phong hóa nứt nẻ (IGM) tại khu vực miền Trung. Công trình kết hợp ba hướng tiếp cận — lý thuyết giải tích, thực nghiệm hiện trường (nén tĩnh và nhổ cọc có đo biến dạng thân), và mô hình số bằng FB-Pier — để đối chiếu và kiểm chứng lẫn nhau. Bộ số liệu thực nghiệm tại cầu Ái Tử là đóng góp gốc có thể sử dụng làm cơ sở để hiệu chỉnh các hệ số trong TCVN 11823-10:2017 cho điều kiện địa chất đặc thù của miền Trung.