CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING TRONG LĨNH VỰC BỆNH VIỆN 1. Một số khái niệm cơ bản & hoạt động marketing trong lĩnh vực bệnh viện 1. Khái niệm Marketing và một số thuật ngữ được sử dụng trong marketing Marketing là một thuật ngữ tiếng Anh được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1902 tại Mỹ, thuật ngữ này khi dịch sang ngôn ngữ khác sẽ khó thể hiện đầy đủ và trọn vẹn khái niệm nên nhiều nước vẫn giữ nguyên thuật ngữ bằng tiếng Anh để sử dụng; tại Việt Nam thuật ngữ này được sử dụng thay cho từ “tiếp thị”. Có rất nhiều các định nghĩa về marketing nhưng định nghĩa có tính bao quát hơn cả là của Philip Kotler và Gary Amstrong: “Marketing là tiến trình qua đó các cá nhân và các nhóm có thể đạt được nhu cầu và mong muốn bằng việc sáng tạo và trao đổi sản phẩm và giá trị giữa các bên”.
Có thể hiểu marketing là một hệ thống các hoạt động của một tổ chức hay cá nhân để hoạch định, định giá, xúc tiến và phân phối sản phẩm thỏa mãn mong muốn của thị trường mục tiêu, qua đó tổ chức hay cá nhân đó đạt được các mục tiêu của mình. Một số thuật ngữ được sử dụng trong marketing: Sản phẩm là bất cứ những thứ gì được đưa ra thị trường để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng bao gồm cả sản phẩm vật chất (hàng hóa) và phi vật chất (dịch vụ). Phân khúc thị trường là việc chia thị trường không đồng nhất thành các khúc thị trường đồng nhất để làm nổi rõ lên sự khác biệt về nhu cầu, tính cách hay hành vi. Phân khúc thị trường được căn cứ theo nhiều tiêu chí khác nhau tùy theo mục tiêu của người làm marketing như tuổi, giới, thu nhập, thói quen sinh hoạt, thói quen tiêu dùng.
6 Thị trường mục tiêu là thị trường bao gồm những khách hàng có cùng nhu cầu hay mong muốn mà tổ chức hay doanh nghiệp quyết định đáp ứng. Ví dụ, thị trường mục tiêu của phẫu thuật thay khớp là những bệnh nhân bị hỏng khớp (do thoái hóa hay chấn thương) muốn khôi phục khả năng vận động của mình. Định vị là hoạt động nhằm tạo ra những nhận thức về lợi ích cơ bản và sự khác biệt của sản phẩm trong tâm trí của khách hàng, từ đó ảnh hưởng đến việc quyết định mua sản phẩm của họ. Marketing hỗn hợp là tập hợp những công cụ marketing mà một tổ chức sử dụng để đạt được các mục tiêu trong một thị trường đã chọn, các công cụ marketing này còn được gọi là các thành phần hay thành tố của marketing hỗn hợp.
Về cơ bản marketing hỗn hợp bao gồm 4 thành tố chính là: sản phẩm (product), giá (price), phân phối (place) và xúc tiến (promotion) và thường được gọi là 4P. Khái niệm dịch vụ và marketing dịch vụ Dịch vụ là một tập hợp các hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, tạo ra chuỗi giá trị và mang lại lợi ích tổng thể. Có rất nhiều các loại dịch vụ khác nhau như dịch vụ y tế, dịch vụ khách sạn, dịch vụ du lịch, dịch vụ đào tạo, dịch vụ vận chuyển, dịch vụ thông tin, dịch vụ tư vấn pháp luật, dịch vụ tài chính ngân hàng. Dịch vụ thường bao gồm hai phần là dịch vụ cơ bản và dịch vụ bao quanh.
Dịch vụ cơ bản là dịch vụ tạo ra giá trị thỏa mãn lợi ích cơ bản của người tiêu dùng đối với dịch vụ đó; đó chính là mục tiêu tìm kiếm của người mua. Dịch vụ cơ bản quyết định bản chất của dịch vụ, ví dụ như chăm sóc sức khỏe là dịch vụ cơ bản của dịch vụ y tế còn cung cấp chỗ ở tạm thời là dịch vụ cơ bản của dịch vụ khách sạn; ngay cả trong dịch vụ y tế thì bệnh viện cung cấp dịch vụ cơ bản là khám chữa bệnh trong khi các trung tâm y tế dự phòng cung cấp dịch vụ cơ bản là phòng chống các dịch bệnh nguy hiểm cho cộng đồng. Dịch vụ bao quanh Dịch vụ cơ bản 7 Dịch vụ bao quanh là những dịch vụ phụ hoặc các khâu của dịch vụ được hình thành nhằm mang lại giá trị phụ thêm cho khách hàng, dịch vụ bao quanh có thể nằm trong hệ thống của dịch vụ cơ bản hoặc là những dịch vụ độc lập. Dịch vụ bao quanh tạo ra những giá trị phụ thêm cho khách hàng, giúp khách hàng có sự cảm nhận tốt hơn về dịch vụ cơ bản đồng thời góp phần tạo ra sự khác biệt cho dịch vụ.
Trong dịch vụ của bệnh viện, dịch vụ bao quanh là các dịch vụ tiếp nhận đăng ký khám chữa bệnh, vận chuyển bệnh nhân, cung cấp các điều kiện ăn ở sinh hoạt cho bệnh nhân và người nhà, dịch vụ giải trí, dịch vụ thông tin. Có hai loại dịch vụ là dịch vụ chủ yếu và dịch vụ hoàn hảo. Dịch vụ chủ yếu cung cấp các giá trị làm hài lòng khách hàng thông qua sản phẩm hàng hóa hiện hữu, đó là dịch vụ khách sạn, du lịch, hàng không, y tế. Dịch vụ hoàn hảo là những dịch vụ hoàn toàn không hiện hữu, như các dịch vụ đào tạo, tư vấn luật, văn hóa nghệ thuật.
Marketing dịch vụ là sự ứng dụng lý thuyết marketing vào thị trường dịch vụ, bao gồm quá trình thu nhận – tìm hiểu – đánh giá – thỏa mãn nhu cầu thị trường mục tiêu bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp tác động vào quá trình cung cấp và sử dụng dịch vụ. Dịch vụ là một loại sản phẩm nhưng nó có những đặc điểm riêng khác biệt với sản phẩm là hàng hóa hiện hữu là: không hiện hữu, không đồng nhất, không tách rời và không tồn trữ. Vì thế, marketing dịch vụ dù tuân theo các nguyên lý và hoạt động cơ bản của marketing chung nhưng vẫn có những đặc điểm riêng đặc thù cho dịch vụ mà các tổ chức cung cấp dịch vụ khi thực hiện marketing cần lưu ý tuân theo để có thể thành công. Hoạt động marketing dịch vụ 2.1 Các nhóm hoạt động chủ yếu của marketing dịch vụ Như đã trình bày, marketing dịch vụ về cơ bản cũng tuân theo các nguyên lý marketing chung và cũng bao gồm 5 nhóm hoạt động chính được các chuyên gia 8 marketing đề cập đến là: chiến lược, marketing hỗn hợp (chiến thuật), kế hoạch và thực hiện, đánh giá và quản lý thông tin.
Xây dựng chiến lược: các hoạt động phân khúc thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu, xác định các mục tiêu chiến lược và định vị dịch vụ. Thiết kế marketing hỗn hợp (chiến thuật). - Sản phẩm: tối ưu hóa danh mục dịch vụ để đạt các mục tiêu chiến lược (thiết kế dịch vụ mới, hoàn thiện dịch vụ hiện có, phân tích và điều chỉnh danh mục dịch vụ.) - Giá: xây dựng chính sách giá phù hợp với chiến lược thông qua các hoạt động phân tích giá và định giá. - Phân phối: xắp xếp bố trí sao cho dịch vụ luôn sẵn có và dễ dàng tiếp cận được với thị trường mục tiêu.
- Xúc tiến bán sản phẩm: giao tiếp với khách hàng thông qua nhiều phương thức khác nhau nhằm cung cấp thông tin, thuyết phục khách hàng và khuyến khích họ sử dụng dịch vụ. Lập kế hoạch và thực hiện: hiện thực hóa các chiến lược và chiến thuật thành hệ thống các hoạt động cụ thể, phân bổ các nguồn lực và phối hợp hoạt động của các bộ phận trong tổ chức. Đánh giá: đánh giá chương trình marketing có đạt được những mục tiêu đã định hay không, phân tích rút ra các bài học để hoàn thiện hoạt động marketing cho tốt hơn. Quản lý thông tin: bao gồm rất nhiều các hoạt động xuyên suốt bốn nhóm hoạt động kể trên.
Các hoạt động nghiên cứu thị trường cho chiến lược, các hoạt động phân tích thông tin cho thiết kế marketing hỗn hợp, các hoạt động thông tin nội bộ và theo dõi thị trường cho thực hiện kế hoạch và đánh giá marketing. Các đặc điểm riêng của hoạt động marketing dịch vụ Do dịch vụ có các đặc điểm khác biệt so với hàng hóa hiện hữu nên hoạt động marketing dịch vụ cũng có những đặc điểm riêng mà các tổ chức cung cấp dịch cụ 9 cần lưu ý trong quá trình thực hiện các hoạt động marketing của mình. Các đặc điểm riêng của hoạt động marketing dịch vụ chủ yếu thuộc nhóm các hoạt động về giá dịch vụ, kênh phân phối và các hoạt động xúc tiến. Giá dịch vụ Giá dịch vụ là yếu tố quan trọng trong marketing hỗn hợp có vai trò quyết định lợi nhuận, lợi thế cạnh tranh của nhà cung cấp dịch vụ và góp phần định vị dịch vụ.
Giá dịch vụ được quyết định dựa trên việc xem xét 3 góc độ: chi phí dịch vụ của người cung cấp, tình trạng cạnh tranh và giá trị dịch vụ tiêu dùng mà người tiêu dùng nhận được. Giá của một số loại dịch vụ rất nhạy cảm và rất được xã hội quan tâm ví dụ như giá dịch vụ y tế. Nhu cầu, chi phí và giá của các dịch vụ cạnh tranh cùng những nhân tố liên quan khác như uy tín của nhà cung cấp dịch vụ, giá trị của dịch vụ mà người sử dụng nhận được. là những căn cứ để định giá và lựa chọn phương pháp định giá cho thích hợp.
Có một số phương pháp định giá như: định giá bằng chi phí cộng thêm, định giá với mục tiêu thu hồi vốn, định giá trọn gói dịch vụ, định giá dựa vào cạnh tranh, định giá kiểm soát nhu cầu. Trong đó, phương pháp định giá trọn gói có tính kinh tế cao và được rất nhiều loại hình dịch vụ áp dụng như du lịch, khách sạn, đào tạo và y tế. Giá trọn gói dựa trên nguyên tắc kết hợp nhiều loại dịch vụ để san sẻ chi phí chung, các dịch vụ này được kết hợp với nhau một cách phù hợp với nhu cầu tiêu dùng và tương ứng với một giá. Ví dụ chương trình quản lý thai sản trọn gói kết hợp các dịch vụ khám thai, tiêm phòng và hộ sinh với nhau và thu một giá trọn gói dịch vụ.
Trong chính sách giá trọn gói phải chú ý tới mối quan hệ chi phí và nhu cầu mà mục đích là khuyến khích nhu cầu với một chi phí kinh tế: khách hàng có lợi ích nhiều hơn khi sử dụng trọn gói và người cung cấp dịch vụ thì cung cấp được nhiều dịch vụ hơn và khả năng quản lý chất lượng dịch vụ tốt hơn.