Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ 1. Khái quát chung về đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã 1. Vị trí, vai trò của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức thành các đơn vị hành chính các cấp: cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Ở địa phương cấp xã là cấp cơ sở, là cấp cụ thể hóa các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của cơ quan nhà nước cấp trên trong phạm vi xã gắn trực tiếp với quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
HĐND xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở xã, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. HĐND xã quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND. HĐND xã gồm các đại biểu HĐND xã do cử tri ở xã bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, có nhiệm vụ vận động nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghị quyết của HĐND, động viên nhân dân tham gia quản lý nhà nước (theo Điều 113, 115 Hiến pháp năm 2013). Các quy định trên của Hiến pháp năm 2013 (sau được cụ thể hóa tại khoản 2 Điều 6 Luật tổ chức CQĐP 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2019).
Có thể thấy, đại biểu HĐND cấp xã có vị trí quan trọng trong đời sống chính trị ở địa phương khi góp phần tạo điều kiện, thúc đẩy sinh hoạt chính trị của nhân dân ở địa phương, là phương tiện, là cầu nối của cử tri cấp xã với Nhà nước (thông qua các cơ quan nhà nước ở địa phương) trong mối quan hệ chính trị. Thông qua bầu cử, cử tri địa phương ủy quyền của mình cho đại biểu HĐND để thông qua đại biểu HĐND, cử tri thực hiện quyền làm chủ của 7 Luan van mình đúng với phương châm: "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" khi tham gia bàn bạc, thảo luận và quyết định các vấn đề quan trọng về kinh tế - xã hội ở địa phương (biểu quyết các nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương), khi thực hiện quyền giám sát, thanh tra, kiểm tra hoạt động của các cơ quan nhà nước ở địa phương; khi thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo về những vi phạm của cá nhân, cơ quan nhà nước ở địa phương trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Ở vị trí đó, đại biểu HĐND liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của HĐND xã, trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cử tri và đại biểu HĐND xã được nhận những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể được pháp luật quy định để thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình. Ở vị trí là phương tiện, là cầu nối của cử tri trong xã với chính quyền trong mối quan hệ chính trị thì vai trò của đại biểu HĐND cấp xã là đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân địa phương, góp phần tạo điều kiện, thúc đẩy sinh hoạt chính trị của nhân dân địa phương khi họ thực hiện quyền làm chủ của mình.
Nhiệm vụ của đại biểu HĐND cấp xã là vận động nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghị quyết của HĐND cấp xã, tham gia quản lý nhà nước ở cơ sở. Qua việc thực hiện nhiệm vụ của mình, vai trò của đại biểu HĐND xã thể hiện ở hai phương diện: - Ở vai trò thực hiện các công vụ theo phân cấp thì HĐND cấp xã giám sát việc triển khai công việc này. Đại biểu HĐND cấp xã với tư cách là thành viên HĐND cấp xã sẽ giám sát việc thực hiện công vụ theo phân cấp. Đại biểu HĐND cấp xã phát huy vai trò tích cực của mình trong hoạt động giám sát của HĐND.
Qua tiếp xúc cử tri và thực tiễn hoạt động, đại biểu phát hiện những vấn đề nổi cộm, bức xúc ở địa phương, từ đó có ý kiến chất vấn Chủ tịch UBND xã hoặc kiến nghị với Thường trực, các Ban HĐND cấp xã để tổ chức các đoàn giám sát nhằm làm rõ trách nhiệm và đề xuất các giải pháp 8 Luan van khắc phục. Các đại biểu kiến nghị buộc các cá nhân, cơ quan có liên quan phải giải quyết những vấn đề đó. + Ở vai trò thực hiện công vụ địa phương, HĐND cấp xã quyết định chính sách địa phương, đồng thời giám sát việc thực hiện các chính sách này. Là thành viên của HĐND, đại biểu HĐND cấp xã tham gia cụ thể hóa chủ trương của cấp ủy, ra quyết định đúng đắn về quy hoạch và mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương từng năm, từng giai đoạn.
HĐND cấp xã nghiên cứu, phân tích chính sách, lấy ý kiến của cử tri và thông qua các đại biểu HĐND cấp xã quyết định các mục tiêu, các chương trình trọng điểm, danh mục các dự án đầu tư trong thời kỳ quy hoạch, kế hoạch, ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển các lĩnh vực kịp thời, phát huy tác dụng trong thực tiễn cuộc sống. Đại biểu HĐND cấp xã đóng góp trí tuệ và trách nhiệm trong thảo luận để tập thể thống nhất cao trước khi quyết định các vấn đề nêu trên. Trong các kỳ họp, đại biểu thảo luận kỹ từng nghị quyết chuyên đề, những nội dung còn nhiều ý kiến khác nhau được tách ra để bàn thảo đến khi thống nhất. Các đại biểu tranh luận dân chủ, thẳng thắn về nội dung các nghị quyết trước khi thông qua.
Việc tranh luận, đối thoại công khai trước khi tiến hành biểu quyết cho thấy HĐND cấp xã thực sự là của dân, do dân và vì dân và đại biểu HĐND cấp xã thực sự là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân bởi cơ quan dân cử, các đại biểu dân cử đã nói lên tiếng nói của người dân, lấy lợi ích của nhân dân làm cơ sở để ban hành các quyết sách. Trách nhiệm, quyền hạn và tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã 1. Trách nhiệm Trách nhiệm của đại biểu HĐND được quy định tại khoản 1 Điều 115 Hiến pháp năm 2013: "…liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của 9 Luan van HĐND, trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đại biểu HĐND có nhiệm vụ vận động nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghị quyết của HĐND, động viên nhân dân tham gia quản lý nhà nước" [21]; các nhiệm vụ này được cụ thể hóa tại các điều 93, 94, 95 Luật tổ chức CQĐP 2015 (sửa đổi, bổ sung 2019): trách nhiệm tham dự kỳ họp, phiên họp HĐND, trách nhiệm tiếp xúc cử tri, trách nhiệm tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân.
Trách nhiệm của đại biểu HĐND diễn ra trong mối quan hệ với cử tri và nhân dân địa phương, xoay quanh việc phục vụ nhân dân, hoàn thành việc đại diện cho ý chí, nguyện vọng, tiếng nói của nhân dân, bảo đảm cho nhân dân được thực hiện đầy đủ và trọn vẹn tư cách làm chủ của mình như: quyết định các vấn đề kinh tế - xã hội của địa phương; thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của các cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền để tránh lộng quyền, lạm quyền, vi phạm nguyên tắc dân chủ, vi phạm pháp luật, để hoạt động của cá nhân, cơ quan đó đi vào nền nếp, minh bạch và hiệu quả; mọi khiếu nại, tố cáo của người dân đều được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Quyền hạn Để thực hiện trách nhiệm của mình, đại biểu HĐND cấp xã được pháp luật trao cho những quyền hạn nhất định. Quyền hạn của đại biểu HĐND được quy định tại các điều 96, 97, 98, 99, 100 Luật tổ chức CQĐP 2015 (sửa đổi, bổ sung 2019), đó là: quyền chất vấn, quyền kiến nghị, quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật khi đại biểu HĐND phát hiện hành vi vi phạm pháp luật, quyền yêu cầu cung cấp thông tin, quyền miễn trừ. Về quyền chất vấn, đại biểu HĐND cấp xã có quyền chất vấn Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND, Ủy viên UBND cùng cấp.
Người bị chất vấn phải trả lời về những vấn đề mà đại biểu HĐND cấp xã chất vấn. Về quyền kiến nghị, đại biểu 10 Luan van HĐND cấp xã có quyền kiến nghị HĐND cấp xã bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND cấp xã bầu, tổ chức phiên họp bất thường và kiến nghị về những vấn đề khác mà đại biểu thấy cần thiết. Về quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật, đại biểu HĐND cấp xã yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật. Về quyền yêu cầu cung cấp thông tin, đại biểu HĐND cấp xã có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó.
Về quyền miễn trừ của đại biểu HĐND, không được bắt, giam, giữ, khởi tố đại biểu HĐND, khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu HĐND nếu không có sự đồng ý của HĐND hoặc trong thời gian HĐND không họp, không có sự đồng ý của Thường trực HĐND. Trường hợp đại biểu HĐND bị tạm giữ vì phạm tội quả tang thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để HĐND hoặc Thường trực HĐND xem xét, quyết định. Trong các quyền hạn của đại biểu HĐND, quyền chất vấn quy định tại Điều 96 và quyền kiến nghị quy định tại Điều 97 được hiến định trong khoản 2 Điều 115 Hiến pháp năm 2013 nên mang tính quyền lực nhà nước.