đặt vấn đề với các mục đích khác nhau về hình phạt sẽ dẫn đến việc thiết kế các hình phạt trong hệ thống hình phạt và cách thức thi hành trên thực tế khác nhau [4, tr. Hiện nay, pháp luật hình sự của các nước thường không tuyệt đối hóa một mục đích cụ thé nào mà là kết hợp các mục đích của hình phạt. Khoa học pháp lý hình sự Việt Nam vẫn chưa hoàn toàn thống nhất quan điểm về mục đích trừng trị của hình phạt. Tuy 13 nhiên, thừa nhận hình phạt có mục đích trừng tri bên cạnh mục dich cai tạo, giáo dục người phạm tội là quan điểm chi phối trong hoạt động lập pháp hình sự thé hiện xuyên suốt qua ba Bộ luật hình sự năm 1985, năm 1999 và năm 2015 [I, tr.
Theo đó, khoa học pháp luật hình sự Việt Nam xác định hình phạt có hai mục đích sau: Mục đích phòng ngừa riêng là “kết quả mà nhà nước mong muốn đạt được khi dùng hình phạt tác động trực tiếp lên người phạm tội” [36, tr. 321] bao gồm các nội dung: Ran đe, trừng tri người phạm tội; Cai tạo, giáo duc người phạm tội; Ngăn ngừa người bị kết án phạm tội mới. Mục đích phòng ngừa chung là “kết quả mà nhà nước mong muốn đạt được khi dùng hình phạt tác động đối với cộng đồng xã hội” [36, tr. Mục đích phòng ngừa chung của hình phạt thé hiện ở các nội dung: Ran đe những người có tam ly “không vững vàng” trong xã hội; Giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật của người dân, nâng cao ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Khoa học pháp lý hình sự tồn tại các học thuyết khác nhau về hình phạt nhưng đều thừa nhận bản chất của hình phạt là phải mang đến sự bất lợi cho người phạm tội thể hiện ở việc tước hoặc hạn chế các quyền, lợi ích của người phạm tội. Tuy nhiên, sự nghiêm khắc của hình phat hay nội dung, phạm vi, mức độ của việc tước hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội phụ thuộc vào việc thừa nhận các mục đích của hình phạt hoặc mục đích được ưu tiên. Khoa học luật hình sự Việt Nam đã kế thừa những giá trị, tư tưởng tiễn bộ của nhân loại về lý luận hình phạt, quy định về hình phạt của pháp luật hình sự Việt Nam dựa trên nền tảng kết hợp của cả hai học thuyết. Theo cách tiếp cận hiện nay khi thừa nhận có bốn học thuyết hình phạt cần xác định học thuyết nào là chủ đạo, đó là phòng ngừa, ngăn ngừa hay cải tạo người phạm tội [22, tr.
Xu hướng kết hợp nhiều học thuyết hình phạt trong quy 14 định hình phạt là xu hướng phổ biến hiện nay trên thế giới, và ngày càng có nhiều quốc gia chuyên trọng tâm vào học thuyết cải tạo người phạm tdi. Khái niệm, đặc điểm của hình phạt trục xuất Khái niệm hình phạt trục xuất Trục xuất là loại hình phạt áp dụng đối với cá nhân, trước khi được quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999, trục xuất được quy định và áp dụng như một biện pháp hành chính. Trục xuất là biện pháp cưỡng chế được quy định trong Sắc lệnh số 205-SL ngày 18/8/1948, đến năm 2000 được quy định trong Pháp lệnh Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam ngày 28/04/2000. Trục xuất lần đầu tiên được ghi nhận chính thức tại Điều 32 Bộ luật hình sự năm 1999 với tư cách là vừa hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung trong hệ thong hinh phat.
Đến Bộ luật hình sự năm 2015 cũng kế thừa nội dung này trong hệ thống các hình phạt áp dụng đối với cá nhân. Điều 37 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “Truc xuất là buộc người nước ngoài bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trục xuất duoc Toà án áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ Sung trong từng trường hop cụ thé” [12, Điều 37]. Quy định tại Điều 37 là hoàn toàn hợp lý bởi lẽ người phạm tội dù là công dân Việt Nam hay người nước ngoài khi bi đưa ra xét xử tại Tòa án Việt Nam theo pháp luật hình sự Việt Nam thì cần phải bình đăng, trong đó bao hàm cả sự bình đăng về việc áp dụng loại, mức hình phạt và nghĩa vụ chấp hành hình phạt.
Sẽ bất công nếu công dân Việt Nam phạm một tội cụ thể trên lãnh thổ Việt Nam thì phải chịu cả hình phạt chính lẫn hình phạt bố sung và các nghĩa vụ dân sự khác, trong khi đó, nếu đối tượng phạm tội là người nước ngoài (cũng phạm tội đó) mà không phải chịu thêm một nghĩa vụ khác. Trong khi đó, thực tiễn cho thấy, khi công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài thông thường phải chấp hành xong hình phạt và các nghĩa vụ thì mới trục xuất. Như vậy, xuất phát từ tính phức tạp của việc xử lý những trường hợp chủ thé là người nước ngoài, Điều 15 37 Bộ luật hình sự năm 2015 đã không quy định những điều kiện cụ thé dé áp dụng hình phạt này, đồng thời cũng không quy định hình phạt này vào từng điều luật cụ thé trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, mà khi xét xử Tòa án sẽ căn cứ vào từng trường hợp cụ thé dé áp dụng với tư cách là hình phạt chính hoặc hình phạt bé sung. Theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành thì Tòa án có thé ap dung hình phạt trục xuất đối với người nước ngoài phạm bat kỳ tội nào được quy định trong Bộ luật hình sự, tuy nhiên trên thực tế xét xử các vụ án liên quan đến người nước ngoài phạm tội, không phải người nước ngoài nào vi phạm pháp luật hình sự Việt Nam đều bị áp dụng hình phạt này, tùy vào tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ xâm phạm đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, miễn trách nhiệm hình sự và các yếu tố khác liên quan đến quan hệ ngoại giao, lãnh sự, nhân đạo.
dé áp dụng khi cần thiết [19, tr. Theo tác giả Cao Vũ Minh trong sách chuyên khảo “Hình thức xử phạt trục xuất trong pháp luật Việt Nam ” thì khái niệm hình phạt trục xuất phải bao gồm được các nội dung như: “bản chất pháp lý của hình phạt trục xuất”; “cơ quan có thẩm quyền áp dụng”; “đối tượng bị áp dụng”; “căn cứ và điêu kiện áp dụng” thì mới đầy đủ và chính xác về nội dung, nhất quán về mặt pháp lý, thông nhất về mặt ngôn từ, đồng thời phù hợp với thực tiễn xét xử và chính sách nhân đạo của Nhà nước. Bên cạnh đó, tác giả Trịnh Tiến Việt phân tích rằng hình phạt trục xuất thê hiện sự lên án gay gắt của Nhà nước đối với trường hợp người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam, tỏ rõ sự không chào đón người nước ngoài đến Việt Nam với những ý đồ xấu. Từ đó tác giả định nghĩa: “Truc xuất là biện pháp cưỡng chế về hình sự của Nhà nước buộc người nước ngoài bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cong hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [28, tr.
Từ những phân tích về mặt quy định của pháp luật có liên quan dưới góc 16 độ khoa học luật hình sự, kết hợp với việc lĩnh hội từ các quan điểm khoa học đã nêu trên, theo tác giả, khái niệm hình phạt trục xuất có thé hiểu như sau: “Hình phạt trục xuất là một trong các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước do Bộ luật hình sự Việt Nam quy định, được Tòa án thông qua thủ tục to tụng hình sự áp dụng đổi với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thé nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, buộc họ trong thời gian nhất định phải rời khỏi Việt Nam”. Đặc điểm của hình phạt trục xuất: Ở Việt Nam, với tính chất vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung, và cũng là một hình phạt trong hệ thống hình phạt được quy định trong luật hình sự, do đó hình phạt trục xuất có nhóm đặc điểm chung giống VỚI các hình phạt khác, đồng thời cũng có nhóm đặc điểm riêng biệt giúp phân biệt nó với những hình phạt còn lại. Nhóm đặc điểm chung của hình phạt trục xuất: Thứ nhất, hình phạt trục xuất là một biện pháp cưỡng chế hình sự nghiêm khắc hơn so với các biện pháp cưỡng chế hành chính của Nhà nước. Hình phạt với tính chất là biện pháp trách nhiệm hình sự được Nhà nước sử dụng như là một công cụ, phương tiện quan trọng để trừng trị, giáo dục, cải tạo người phạm tội.
Nó thông thường gắn liền với việc áp dụng cưỡng chế của nhà nước. Tính cưỡng chế của hình phat, tức là dùng quyền lực nhà nước bắt phải tuân theo, được thể hiện ở nội dung trừng tri là một đặc điểm cơ bản của hình phạt; đặc điểm này cho phép phân biệt hình phạt với các biện pháp tác động xã hội khác. Nội dung trừng trị của hình phạt có thé nặng, nhẹ khác nhau, nhưng chúng đều có cùng tính chất là một loại biện pháp cưỡng chế trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế nhà nước. Khi được áp dụng, hình phat gây nên những tổn hại nhất định cho người phạm tội.
Họ có thể bị tước bỏ hoặc bị hạn chế những quyền và lợi ích thiết thân nhất, chăng 17 hạn như tước quyền tự do (hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân), hạn chế quyền tự do cư trú (các hình phạt quản chế, cắm cư trú, rực xuất), tước các quyền dân sự, chính trị (hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định, cam hành nghề hoặc làm công việc nhất định; hình phạt tước quyền công dân), tước quyền lợi vật chat (các hình phạt tiền, tịch thu tài sản), thậm chí họ có thé bị tước cả quyền sống của mình (hình phạt tử hình). Đồng thời, khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, nhà nước thé hiện thái độ phản ứng chính thức, lên án về mặt chính trị - pháp lý, đạo đức đối với tội phạm và với người thực hiện tội phạm. Những sự tác động pháp lý như vậy của hình phạt làm cho người phạm tội và những người khác không vững vàng trong xã hội trong tương lai có thái độ tôn trọng pháp luật hình sự. Những hạn chế đó mang nội dung trừng trị của hình phạt đối với người phạm tội.