Mở đầu, Phương pháp thực hiện đề tài, Cơ sở lý thuyết, Phần mềm Geant4 và phương pháp Monte Carlo, Mô phỏng và khảo sát đường cong hiệu suất đầu dò CdTe, Tóm tắt kết quả đạt được, hạn chế và hướng khắc phục của đề tài. 12 | P a g e CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 2. Nhiệm vụ của đề tài Những nhiệm vụ chính đặt ra cho đề tài là: - Tổng hợp, chọn lọc và nắm vững các vấn đề về đầu dò bán dẫn, vấn đề về mô phỏng vật lý hạt nhân bằng chương trình Geant4. - Nghiên cứu, nắm rõ các đặc tính của đầu dò bán dẫn CdTe.
- Xây dựng hệ mô phỏng để mô phỏng và khảo sát đường cong hiệu suất đầu dò CdTe. Hướng giải quyết các yêu cầu chức năng - Các vấn đề đầu dò, chất bán dẫn CdTe được tìm hiểu kĩ qua các nguồn tài liệu tin cậy từ internet, các bài báo nghiên cứu chuyên ngành của trong và ngoài nước,. - Xây dựng môi trường mô phỏng bằng ngôn ngữ C++ để lập trình cho Geant4. - Sử dụng thông tin của đầu dò XR100-CdTe của Ampek để đánh giá kết quả mô phỏng.
Tham khảo vào thu thập tài liệu Với yêu cầu đề tài đặt ra, học viên đã tìm hiểu nhiều tài liệu từ internet, sách tham khảo, luận văn của anh chị khóa trên,. Đó là các tài liệu về những vấn đề: - Ngôn ngữ C++, cài đặt Visual studio C++ và cách lập trình C++. - Phần mềm Geant4, các bộ thư viện của Geant4, cách lập trình và cấu trúc của một chương trình Geant4. - Phần mềm CMake, cách sử dụng CMake để build một chương trình Geant4.
- Các bài viết về chất bán dẫn CdTe, tính chất, thông số, ứng dụng. 13 | P a g e - Sử dụng các từ khoá: “Visual studio C++”, “build a geant4 program”, “CdTe detector”, “principle of CdTe detector”, “C++ tutorial”, “Geant 4 program structure”, … để tìm kiếm trên internet. Thực hiện đề tài - Tìm hiểu về các vấn đề lý thuyết liên quan đến đầu dò bán dẫn và ứng dụng, các phản ứng, đặc tính của đầu dò bán dẫn, tính chất của chất bán dẫn. Tổng kết và liệt kê các lý thuyết liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu về CdTe thông qua các tài liệu để nắm các thông số, các đặc tính, ưu nhược điểm và ứng dụng của CdTe. - Tìm hiểu về chương trình Geant4, cách cài đặt, các xây dựng một chương trình Geant4, cấu trúc của chương trình Geant4, các bộ thư viện và các yêu cầu cần thiết khi bắt tay vào thực hiện mô phỏng bằng Geant4. Cài đặt và chạy thử các ví dụ có sẵn trong chương trình Geant4 - Tìm hiểu về ngôn ngữ C++, các câu lệnh và cấu trúc lập trình của ngôn ngữ C++. Thực hành lập trình cho Geant4 bằng ngôn ngữ C++ - Cài đặt và build một chương trình Geant4 bằng CMake - Nghiên cứu và thực hiện chương trình ROOT để truy xuất kết quả từ chương trình Geant4 14 | P a g e CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 3.
Lý thuyết tương tác gamma với vật chất Tia Gamma là loại bức xạ điện từ có tần số cực cao, gamma là hạt không mang điện nên không bị ảnh hưởng bởi trường lực Coulumb. Do vậy tia gamma có khả năng đi sâu vào vật chất tương tác với hạt nhân, electron hay nguyên tử nói chung và suy giảm năng lượng. Khi đi xuyên qua vật chất, tia gamma sẽ tương tác với vật chất theo nhiều cơ chế khác nhau. Để đơn giản chúng ta sẽ giới hạn khoảng năng lượng khảo sát từ 7,8 keV đến 2 MeV.
Ở trong khoảng năng lượng này có 4 loại tương tác chính : > Hấp thụ quang điện > Tán xạ Compton > Quá trình tạo cặp > Tán xạ Rayeigh Ba quá trình tương tác cơ bản là hấp thụ quang điện, tán xạ compton và quá trình tạo cặp. Trong cả ba trường hợp, electron được sinh ra và bị làm chậm, trong quá trình di chuyển chúng gây ion hóa tạo ra các cặp electron-ion và electron-lỗ trống trong bán dẫn. Quá trình hấp thụ quang điện Quá trình hấp thụ quang điện là quá trình mà một photon tương tác và bị hấp thụ hoàn toàn năng lượng bởi electron ở lớp ngoài nguyên tử. Electron thoát ra khỏi nguyên tử với năng lượng Ee xấp xỉ bằng: Ee = Ey - Eb Trong đó E y là năng lượng tia gamma tới, Eb là năng lượng liên kết của electron.
Ngoài ra, một phần nhỏ năng lượng được truyền cho nguyên tử, năng lượng này không được tính đến trong phương trình trên. Do định luật bảo toàn năng lượng và xung lượng, hiện tượng hấp thụ quang điện không xảy ra với electron tự do. Electron 15 | P a g e phát ra để lại lỗ trống ở lớp vỏ nguyên tử. Các electron các lớp khác sẽ chuyển về lấp đầy lỗ trống làm phát tia X và electron Auger.
Nếu hiện tượng này diễn ra trong một khối vật chất thì những tia X phát ra sẽ bị hấp thụ ở vật liệu phía ngoài. Do đó, trong hầu hết các trường hợp có thể xem như toàn bộ năng lượng của photon bị hấp thụ trong vật liệu xung quanh khu vực tương tác. Tiết diện tương tác phụ thuộc số Z của vật liệu và năng lượng của photon. Một cách gần đúng có thể mô tả tiết diện theo công thức: Hình 3.
Quá trình hấp thụ quang điện Sự phụ thuộc mạnh vào Z cho thấy rằng vật liệu Z cao có tác dụng rất lớn trong hấp thụ và che chắn photon. Sự suy giảm mạnh theo năng lượng photon là lí do vì sao tương tác này lại chiếm ưu thế ở năng lượng thấp nhưng lại có thể bỏ qua ở năng lượng cao. Tán xạ Compton Quá trình tán xạ Compton là quá trình mà photon truyền một phần năng lượng cho electron, phần năng lượng còn lại sẽ do photon thứ cấp mang đi. Mối liên hệ giữa năng lượng và góc tán xạ được minh họa trong hình bên dưới, trong đó E là năng lượng của photon tới, E’ và Ee là năng lượng của photon sau tán xạ và của electron, hệ số a = E/m0C2, với m0C2 là năng lượng tương ứng với khối lượng nghỉ của electron.
Giá trị năng lượng của photon thứ cấp: 16 | P a g e E'= E/[1 + 𝛼(1 - cos𝜃)] Năng lượng của electron sau tán xạ: Ec = E{1 -1/[1 + 𝛼(1 - cos𝜃)]} Mối liên hệ giữa các góc tán xạ: tan 𝜙 = 1/[1 + 𝛼.tan(𝜃/2)] Đối với các góc tán xạ rất nhỏ, năng lượng electron gần như bằng 0, khi đó photon thứ cấp có năng lượng gần bằng với năng lượng của photon ban đầu. đối với góc tán xạ bằng 1800, photon thứ cấp có năng lượng lớn nhất và bằng E/(1 + 2𝛼). Sự phụ thuộc của tiết diện tán xạ Compton vào Z và E được tính gần đúng theo công thức: 𝜎 = constZ. Quá trình tạo cặp Trong vùng năng lượng cao (vài MeV), tạo cặp là tương tác chủ yếu của các tia gamma.
Trong quá trình này, năng lượng của một photon trong trường Coulomb bị biến đổi thành một cặp electron - positron được mô tả như hình bên dưới. Vì thế năng lượng photon phải lớn hơn hai lần năng lượng tương ứng với khối lượng nghỉ của electron (1022 keV). Theo định luật bảo toàn năng lượng, tia gamma sẽ biến mất trong trường Coulomb, sinh ra một cặp electron - positron này cùng với nguyên tử giật lùi ℎ𝜈0 = 2𝑚𝑒 𝑐 2 + 𝑇𝑒+ + 𝑇𝑒− + 𝑇𝐴 17 | P a g e Hình 3. Quá trình tạo cặp Với T e + , T e - , T A lần lượt là động năng của positron, electron và nguyên tử giật lùi.
Các electron và positron được tạo ra sẽ mau chóng được làm chậm trong môi trường. Sau khi mất hết động năng, positron sẽ kết hợp với một electron tạo ra sự hủy cặp, quá trình này tạo ra hai tia gamma với cùng năng lượng 0,511MeV. Tiết diện của quá trình tạo cặp 𝜎𝑝 tỉ lệ với bình phương nguyên tử số: 𝜎𝑝 ∝ 𝑍 2 3. Tán xạ Rayleigh Tán xạ Rayleigh là quá trình mà photon bị tán xạ lên các electron liên kết của nguyên tử mà không gây nên sự ion hóa hay kích thích nguyên tử, năng lượng của gamma không thay đổi sau khi xảy ra tán xạ mà chỉ bị lệch pha được minh họa như hình bên dưới.
Tán xạ này chủ yếu diễn ra ở vùng năng lượng thấp và vật chất có số Z lớn. Tán xạ Raylegih Ngoài tán xạ Rayleigh còn có tán xạ Thomson làm thay đổi hướng của photon mà không làm mất năng lượng. Tán xạ Rayleigh xảy ra với electron lớp ngoài và tán xạ Thomson xảy ra với các electron tự do. Hai tán xạ này thường bị bỏ qua trong rất nhiều trường hợp.
Đầu dò bán dẫn và đặc điểm của đầu dò bán dẫn 3. Giới thiệu về đầu dò bán dẫn a. Chất bán dẫn Chất bán dẫn (tiếng Anh: Semiconductor) là chất có độ dẫn điện ở mức trung gian giữa chất dẫn điện và chất cách điện. Chất bán dẫn hoạt động như một chất cách điện ở nhiệt độ thấp và có tính dẫn điện ở nhiệt độ phòng.
Gọi là "bán dẫn" (chữ "bán" theo nghĩa Hán Việt có nghĩa là một nửa), vì chất này có thể dẫn điện ở một điều kiện nào đó, hoặc ở một điều kiện khác sẽ không dẫn điện. Tính bán dẫn có thể thay đổi khi có tạp chất, những tạp chất khác nhau có thể tạo tính bán dẫn khác nhau. Trường hợp hai chất bán dẫn khác nhau được gắn với nhau, nó tạo ra một lớp tiếp xúc. Các tính chất của các hạt mang điện như electron, các ion và lỗ trống điện tử trong lớp tiếp xúc này là cơ sở để tạo nên diot, bóng bán dẫn và các thiết bị điện tử hiện đại ngày nay.
Trong kỹ thuật điện tử chỉ sử dụng một số chất bán dẫn có cấu trúc đơn tinh thể, quan trọng nhất là hai nguyên tố Gecmani và Silic. Thông thường Gecmani và Silic được dùng làm chất chính, còn các chất như Bo, Indi (nhóm 3), phôtpho, Asen (nhóm 5) làm tạp chất cho các vật liệu bán dẫn chính. Đặc điểm của cấu trúc mạng tinh thể này là độ dẫn điện của nó rất nhỏ khi ở nhiệt độ thấp và nó sẽ tăng theo lũy thừa với sự tăng của nhiệt độ và tăng gấp bội khi có trộn thêm tạp chất. 19 | P a g e Chất bán dẫn về cơ bản có 2 loại là bán dẫn tinh khiết hay còn gọi là bán dẫn đơn chất như là Si, Ge,.
và bán dẫn hợp chất như GaAs, CdTe, ZnS, nhiều oxit, sunfua, selenua, telurua, … và một số chất polime. Điện trở suất 𝜌 của chất bán dẫn nằm trong khoảng trung gian giữa kim loại và chất điện môi.