CHƯƠNG 1: SỢI DẪN QUANG DÙNG TRONG HỆ THỐNG QUANG TỐC ĐỘ CAO 1.Các sợi quang đơn mode dùng trong hệ thống quang tốc độ cao. Khi phân tích các sợi quang ta thấy rằng sợi đơn mode có suy hao nhỏ và có băng tần rất lớn. Điều đó khẳng định vai trò và năng lực của nó trong mạng viễn thông hiện đại và trong tương lai. Tuy nhiên để nâng cao hơn nữa khả năng sử dụng sợi đơn mode thông thường người ta tiếp tục thay đổi một số tham số trong cấu trúc sợi này.
Nhờ tối ưu hoá sợi đơn mode, công nghệ quang sợi đã cho ra đã cho ra đời một loại sợi mới có suy hao rất nhỏ, có chất lượng truyền dẫn tốt hơn, tích băng tần cự li lớn và có tuổi thọ cao sẽ đáp ứng được yêu cầu cao của những hệ thống truyền dẫn tốc độ cao. Có thể nhận thấy rằng có thể tạo được các loại sợi quang dẫn mới khi thay đổi mặt cắt chỉ số chiết suất của lõi sợi. Cho tới nay người ta đã thiết kế và chế tạo hai loại sợi quang mới dùng khá hiệu quả trong các hệ thống thông tin quang dựa theo nguyên tắc trên, đó là sợi quang đơn mode tán sắc dịch chuyển DSF( Dispertion-Shifted Fiber) và sợi đơn mode tán sắc dịch chuyển không bằng không hay tán sắc dịch chuyển khác không NZ-DSF( Non-Zero Dispersion- Shifted Fiber). Sợi DSF là sợi quang đơn mode có bước sóng λo nằm trong vùng bước sóng bước sóng 1550 nm (1525nm- 1575nm) mà tại đó giá trị tán sắc bằng không , và sợi này được sử dụng tối ưu cho các bước sóng nằm xung quanh 1550nm.
Do sợi quang đơn mode DSF có cả suy hao nhỏ giống như sợi đơn mode SMF thông thường và tán sắc cũng nhỏ cho nên rất có hiệu quả trong việc ứng dụng vào các hệ thống thông tin quang hoạt động ở vùng bước sóng 1550nm hoặc là các hệ thống sử dụng khuyếch đại quang sợi pha tạp Erbium EDFA(Erbium-Doped Fiber Amplifier), trong đó hiệu quả nhất là đối với các hệ thống đơn kênh quang. Như vậy, nhờ loại sợi này mà ta có thể xây dựng được các hệ thống thông tin quang có tốc độ cao, cự ly xa chẳng hạn như các hệ thống thông tin cáp quang biển. Sợi NZ-DSF là sợi quang đơn mode có giá trị tán sắc mà giá trị tuyệt đối của nó nhỏ nhưng không bằng không trong vùng bước sóng 1550nm, bước sóng mà tại đó tán sắc bằng không nằm ở ngoài vùng bước sóng 1500nm – 1600nm. Sợi này được coi là tối ưu trong các hệ thống thông tin quang hoạt động tại các bước sóng nằm trong vùng bước sóng 1500nm- 1600nm, khi kỹ thuật ghép kênh quang theo bước sóng trên 1 sợi quang, lúc này phi tuyến của sợi quang lại cần 6 Hệ thống truyền dẫn quang tốc độ cao phải xem xét kĩ lưỡng.
Đáp ứng phi tuyến này gây ra thêm một loạt các hiệu ứng phi tuyến như hiệu ứng trộn bốn sóng FWM( Four Wave Mixing), tự điều chế pha SPM(Self Phase Modulation). Trong các hiệu ứng này, hiệu ứng FWM gây ra nhiều phức tạp hơn cả. Do hiệu suất của hiệu ứng FWM phụ thuộc vào tán sắc của sợi quang cho nên sợi tán sắc dịch chuyển DSF không thích hợp với các hệ thống WDM có dung lượng và cự ly xa. Sự ra đời của sợi NZ-DSF vào năm 1994 đã giải quyết được vấn đề này.
Đặc tính suy hao của sợi này tương tự như sợi đơn mode thông thường SMF, nhưng điểm nổi bật của nó là có tán sắc nhỏ nhưng khác không với giá trị tiêu biểu là 0,1ps/km.nm≤Dmin ≤ Dmax≤6 ps/km.nm trong vùng bước sóng 1530nm- 1565nm. Có hai loại sợi NZ-DSF. Loại sợi +NZ-DSF có điểm tán sắc bằng không nằm ở vùng bước sóng < 1500nm như được thể hiện trong hình 2. Loại sợi -NZ- DSF có điểm tán sắc bằng không nằm ở vùng bước sóng > 1600nm.
Ngoài ra còn có loại sợi NZ-DSF có hai điểm tán sắc bằng không thuộc loại sợi tán sắc phẳng. Tán sắc (ps/km.nm) 20 +NZ-DSF 10 SMF -NZ-DSF -10 NZ-DSF phẳng -20 DSF 1.8 Bước sóng Hình 1.1: tán sắc của các loại sợi SMF, DSF và NZ-DSF Ngoài các ưu điểm về suy hao và tán sắc như đã phân tích ở trên , sợi NZ- DSF còn có các đặc điểm rất mạnh khác như khả năng giảm ảnh hưởng của các hiệu ứng phi tuyến và giảm tán sắc phân cực mode. Nhìn chung các sợi quang được thiết kế để dịch chuyển tán sắc thường có diện tích hiệu dụng Aeff khoảng 50-60 μm 2.Trong khi đó ảnh hưởng của các hiệu ứng phi tuyến lại tỉ lệ nghịch với Aeff đối với các hiệu ứng tán xạ Brillouin được kích thích SBS( Stimulated Brillouin Scattering), tán xạ Raman được kích thích SRS (Stimulate Raman 7 Hệ thống truyền dẫn quang tốc độ cao Scattering), SPM, FWM. Còn các ảnh hưởng của các hiệu ứng phi tuyến lại tỉ lệ nghịch với (Aeff )2 đối với hiệu ứng XPM.
Do đó để giảm ảnh hưởng của các hiệu ứng phi tuyến thì phải tăng diện tích hiệu dụng của sợi. Các sợi NZ-DSF đã sử dụng cơ chế này để nâng cao năng lực ứng dụng của chúng. Cũng vì vậy mà sợi quang cho phép có thể tiếp nhận công suất tín hiệu quang lớn hơn và làm cự ly truyền dẫn càng dài thêm, làm giảm tổng số thiết bị sử dụng trên tuyến. Trong thiết kế các sợi quang đơn mode trước đây người ta ít quan tâm tới việc giảm PMD.
Đó là do thực tế các hệ thống thông tin quang khi đó chưa có tốc độ thực sự cao. Ngày nay nhu cầu tăng dung lượng truyền dẫn đã làm cho việc triển khai các hệ thống tốc độ bit cao trở thành nhu cầu cần thiết. Do vậy việc giảm PDM trở nên quan trọng bởi vì nếu như sợi có PMD lớn sẽ làm tăng lượng thiết bị trên tuyến và việc thiết kế sẽ phức tạp. Đặc điểm này tạo cho việc triển khai các hệ thống có luồng tín hiệu quang đơn kênh cao hơn 10Gbit/s.
Hiện nay đã có 1 số sợi tiên tiến thuộc loại NZ-DSF ra đời. Tiêu biểu là sợi NZ-DSF của Corning có tên là SMF-LS ra đời năm 1997, LEAF ra đời năm 1998. Lucent thì sản xuất sợi sợi True wave RS.Và đặc biệt Alcatel cho ra đời sợi Teralight năm 1999, tiếp đó Teralight metro và teralight Ultra, những loại cáp này hoàn toàn phù hợp với hệ thống tốc độ cao 40Gb/s. Như vậy có thể thấy rằng loại sợi tán sắc dịch chuyển DSF ra đời với mục đích dịch chuyển vùng tán sắc tối ưu của sợi đơn mode tiêu chuẩn SMF về vùng bước sóng 1550nm, còn sợi NZ-DSF tiếp tục hợp lý hoá sợi DSF để trở thành sợi có khả năng hạn chế hiệu ứng phi tuyến mà tiêu biểu là giảm FWM, để ứng dụng hiệu quả cho các hệ thống WDM mà vẫn đảm bảo cự ly truyền dẫn dài.
Về đặc tính suy hao của cả ba loại sợi SMF, DSF, NZ-DSF nhìn chung đều giống như nhau. Tuy nhiên chỉ có tán sắc CD và tán sắc PMD là có sự khác nhau. Từ các đặc tính của các loại sợi như vậy cho nên nếu sử dụng chúng phù hợp trong từng ứng dụng cụ thể sẽ có rất nhiều hiệu quả cả về mặt kỹ thuật và kinh tế. Một số loại sợi NZ-DSF Loại sợi SMF-LS Submarine LEAF LEAF Teralight NZ-DSF SMF-LS Enhanced ultra NZ-DSF Thời điểm ra đời 4/1997 2/1998 9/1998 1999 Đường kính vỏ 125,0 ± 1 125,0 ± 1 125,0 ± 1 125,0 ± 1 125,0 ± 1 phản xạ, µm Đường kính vỏ 245 ± 5 245 ± 5 245 ± 5 245 ± 5 242 ± 7 8 Hệ thống truyền dẫn quang tốc độ cao ngoài, µm Đường kính trường 8,4 ± 0,5 7,9 ± 8,9 9,0 ± 9,6 9,0 ± 9,6 9,2 ± 0,5 mode tại 1550nm, µm Độ đồng tâm của ≤ 0,5 ≤ 0,5 ≤ 0,5 ≤ 0,5 ≤ 0,5 trường mode tại 1550nm, µm Độ Trường Rất nhỏ Rất nhỏ Rất nhỏ Rất nhỏ Rất nhỏ không mode tròn Vỏ phản đều,% xạ Hệ số tán sắc vùng 4,4 4,4 3,7 3,7 8 1550nm, ps/nm2.km Độ dốc tán sắc, ≤ 0,12 ≤ 0,07 ≤ 0,07 ≤ 0,07 ≤ 0,052 ps/km.nm PMD, ps/km1/2 ≤ 0,5 ≤ 0,1 ≤ 0,1 ≤ 0,08 ≤ 0,1 Hệ số suy hao tại ≤ 0,25 ≤ 0,22 ≤ 0,23 ≤ 0,23 ≤ 0,22 1550nm, dB/km Suy hao uốn cong ≤ 0,05 ≤ 0,05 ≤ 0,05 ≤ 0,05 ≤ 0,05 tại 1550nm với bán kính 37,5nm, dB Diện tích hiệu 55 70 70 ÷ 120 70 ÷ 120 63 dụng 1.
Suy hao tín hiệu truyền trong sợi quang. Việc truyền tín hiệu từ phía phát tới phía thu sẽ bị suy hao và méo tín hiệu , đây là hai yếu tố quan trọng, nó tác động vào toàn bộ quá trình thông tin, định cỡ về khoảng cách và tốc độ tuyến truyền dẫn cũng như xác định cấu hình của hệ thống thông tin quang. Sự suy hao trong sợi quang dẫn đến việc giảm công suất tín hiệu khi lan truyền qua một khoảng cách nào đó. Để xác định khoảng cách lớn nhất mà một tín hiệu có thể truyền đối với một công suất phía phát đưa ra và độ nhạy máy thu thì phải xét tới sự suy giảm tín hiệu.
Độ nhạy của máy thu là công suất nhỏ nhất mà máy thu yêu cầu để nhận được tín hiệu. Sự suy giảm được đặc trưng bởi phương trình: 9 Hệ thống truyền dẫn quang tốc độ cao P(L)= 10-AL/10P(0) (1.1) Tại P(0) là công suất quang ở đầu phát. Đối với một tuyến dài L(km) thì P(L) phải lớn hoặc bằng 10 P (0 ) LMAX = log 10 (1.2) A Pr Khoảng cách lớn nhất giữa đầu phát và đầu thu (hay khoảng cách giữa các bộ khuyếch đại ) phụ thuộc vào suy hao chung A nhiều hơn công suất đưa ra của đầu phát như trước chúng ta đã nói suy hao thấp nhất =0,2dB/km xảy ra ở 1550nm. Trên một tuyến thông tin quang, các suy hao ghép nối giữa nguồn phát quang và sợi quang, giữa sợi quang và sợi quang và giữa sợi quang với đầu thu quang cũng có thể coi là suy hao trên tuyến truyền dẫn.
Quá trình sợi bị uốn cong quá giới hạn cho phép cũng tạo ra suy hao. Các suy hao này là suy hao ngoài bản chất của sợi do đó có thể làm giảm chúng bằng nhiều biện pháp khác nhau. Vấn đề ta xét ở đây là suy hao bản chất ở bên trong sợi. Trong quá trình truyền ánh sáng bản thân sợi dẫn quang cũng có suy hao và làm cho tín hiệu bị yếu đi khi qua một cự ly lan truyền ánh sáng nào đó.
Cơ chế suy hao cơ bản trong sợi quang là suy hao do hấp thụ, do tán xạ hay do bức xạ năng lượng ánh sáng.