PHẦN MỞ ĐẦU: TÍNH CẤP THIẾT VÀ MỤC ĐÍCH CHỌN ĐỀ TÀI Nƣớc ta hiện nay đang trong thời kỳ hiện đại hoá - công nghiệp hoá đất nƣớc, mục tiêu phấn đấu tới hết năm 2020. Để đáp ứng mục tiêu này, một điều đã rõ ràng là phải đẩy mạnh sự phát triển của ngành năng lƣợng điện. Bởi vì nó là ngành cần đƣợc phát triển trƣớc một bƣớc. Trong thực tế mấy năm qua cho thấy: chúng ta đã liên tiếp khai thác các nguồn năng lƣợng khác nhau để sản suất điện năng.
Bên cạnh các nhà máy thủy điện, nhiệt điện đốt than, tuabin khí đang đƣợc sử dụng thì cũng đã có rất nhiều nhà máy điện đang đƣợc xây dựng và đƣa vào vận hành. Theo số liệu thống kê của tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) thông báo tình hình hoạt động đầu tƣ xây dựng và sản xuất kinh doanh tháng 4 năm 2015, trong đó thủy điện chiếm 32,27%, nhiệt điện than chiếm 33,74%, tuabin khí chiếm 32,67%, nhiệt điện dầu chiếm 0,14% và nhập khẩu Trung Quốc chiếm 1,17%. Theo chƣơng trình phát triển nguồn điện, dần dần thủy điện sẽ giảm, nhiệt điện than tăng, tua bin khí + dầu sẽ tăng trong mấy năm tới. Cụ thể, cho tới năm 2020 thì tỷ trọng của các loại điện này sẽ là: Thủy điện 26,6%, nhiệt điện than tăng lên 44,7%, nhiệt dầu khí 19,6%, nguồn năng lƣợng tái tạo 4,8%, nhập khẩu 2,8% (theo số liệu của chƣơng trình phát triển nguồn điện, Tổng công ty Điện lực Việt Nam).
Qua số liệu thống kê ta thấy năm 2015 nhiệt điện đốt than chiếm 33,74% thì đến năm 2020 dự kiến tăng lên 44,7%. Điều đó chứng tỏ ngoài các nhà máy nhiệt điện đốt than đang vận hành nhƣ là nhà máy nhiệt điện Phả Lại 1, 2; nhà máy nhiệt điện Ninh Bình, nhà máy nhiệt điện Uông Bí; nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả; nhà máy nhiệt điện Hải Phòng; nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh,. thì việc mở rộng và xây thêm nhà máy Nhiệt điện than là điều hết sức cần thiết. Vấn đề về vận hành, thiết kế mở rộng nhà máy làm sao cho kinh tế và hiệu quả nhất sẽ là rất quan trọng.
Trong đó có một vấn đề là duy trì độ chân không có lợi nhất cho bình ngƣng. Thực tế cũng cho thấy hầu hết các nhà máy nhiệt điện ngƣng hơi của nƣớc ta đã có đều dùng nguồn nƣớc làm mát là nƣớc sông theo sơ đồ hở, ví dụ nhƣ: nhà máy nhiệt điện Phả Lại 1 dùng nƣớc sông Thái Bình, nhà máy nhiệt điện Uông Bí dùng nƣớc sông Uông, nhà máy nhiệt điện Ninh Bình dùng nƣớc sông Đáy. Điều kiện khí hậu nƣớc ta lại thay đổi rất rõ rệt theo mùa, nhiệt độ trung bình nƣớc sông thay đổi rất 2 nhiều giữa mùa đông và mùa hè. Theo số liệu khảo sát đƣợc tại Phả Lại của sông Thái Bình thì nhiệt độ thấp nhất về mùa đông là 15°C, trong khi đó, về mùa hè nhiệt độ cao nhất lại lên tới 32°C.
Điều này làm ảnh hƣởng tới quá trình truyền nhiệt trong bình ngƣng và do đó làm thay đổi chế độ chân không bình ngƣng. Nƣớc sông lại có nhiều phù sa, các sinh vật phù du, các động vật thân mềm cũng nhƣ hà hến. đều làm ảnh hƣởng tới vấn đề đóng cáu cặn trong ống bình ngƣng, gây cản trở dòng nƣớc làm mát đi trong ống. Nhƣ thực tế vận hành bình ngƣng tại nhà máy nhiệt điện Phả Lại 1 cho thấy, nhà máy phải có chế độ rửa ngƣợc đƣờng ống tuần hoàn bằng nƣớc nóng (45 † 53 0C) để diệt hà hến và thông cáu cặn.
Lọt khí và sự làm việc của thiết bị hút thải không khí cũng có ảnh hƣởng lớn tới truyền nhiệt và do đó tới áp suất bình ngƣng. Hơn nữa, mực nƣớc sông cũng thƣờng xuyên thay đổi. Về mùa mƣa (từ tháng 6 đến hết tháng 8), mức nƣớc sông thực tế cao nhất tại Phả Lại đo đƣợc tại cửa hút của bơm tuần hoàn là 5 † 6,5 m, nhƣng về mùa khô (từ tháng 11 đến hết tháng 2) thì lại rất thấp, chỉ từ 0,6 † 1,5 m. Sự thay đổi nhiều về mức nƣớc sông này cũng gây khó khăn cho việc điều chỉnh sự làm việc của các bơm tuần hoàn.
Do đó thực tế nhà máy đã phải chia ra các phƣơng thức vận hành hệ thống bơm tuần hoàn khác nhau và cách đấu nối các bơm này vào hệ thống cũng nhƣ việc điều chỉnh góc quay của cánh bơm sao cho các bơm đƣợc làm việc trong vùng ổn định, đạt hiệu suất cao nhất có thể và cung cấp đủ lƣợng nƣớc cần thiết cho việc làm mát và các nhu cầu khác của nhà máy. Phụ tải điện đƣợc phép phát cũng thƣờng xuyên phải thay đổi do phần lớn các nhà máy nhiệt điện đều phải đáp ứng phần phụ tải nửa ngọn hoặc phụ tải ngọn trong đồ thị phân phối phụ tải chung của Quốc gia. Chế độ vận hành thƣờng xuyên bị thay đổi do độ dao động lớn của đồ thị phụ tải làm thay đổi phụ tải nhiệt của bình ngƣng. Nếu chế độ duy trì chân không và chế độ cung cấp nƣớc làm mát không đáp ứng tốt thì cũng sẽ làm giảm hiệu quả kinh tế của quá trình sản xuất điện ở các nhà máy nhiệt điện kiểu tuabin ngƣng hơi này.
Tóm lại, do điều kiện thời tiết, khí hậu đặc thù nhƣ trên, do yêu cầu thay đổi phụ tải điện, do các điều kiện trực tiếp hay gián tiếp khác có ảnh hƣởng đến vận hành hệ thống sản xuất điện và tới hệ thống bình ngƣng mà một vấn đề có tính cấp thiết đặt ra cho nghiên cứu là làm sao cho có thể điều khiển vận hành hệ thống bình ngƣng một cách kinh tế và an toàn nhất. Ở mỗi một chế độ vận hành khác nhau 3 về điều kiện bên ngoài cũng nhƣ bên trong hệ thống bình ngƣng, làm sao cho có đƣợc một bộ các thông số để duy trì mà đó là một bộ các thông số thích hợp nhất về cả mặt kỹ thuật cũng nhƣ mặt kinh tế trong quá trình sản xuất điện năng. Đối với bình ngƣng để đảm bảo chế độ vận hành hiệu quả kinh tế cũng nhƣ an toàn cho thiết bị thì hai tham số chính là áp suất bình ngƣng và mức nƣớc bình ngƣng là không thể không quan tâm. Do vậy trong giới hạn của đề tài này ta đi thiết kế bộ điều khiển cho hai đại lƣợng này.
Đề tài này có một ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng, đó là vì khi ta đã vận hành hệ thống hút chân không bình n gƣng tối ƣu thì đƣơng nhiên là hiệu quả kinh tế (hiệu suất sản xuất điện) chung của cả nhà máy điện sẽ đƣợc cải thiện và do đó trong quá trình vận hành nhà máy nhiệt điện sẽ đem lại lợi ích cao hơn. Tuy nhiên trong quá trình vận hành thực tế, có nhiều yếu tố bên ngoài tác động tới bình ngƣng, làm cho bình ngƣng không vận hành đƣợc chính xác các thông số nhƣ đã thiết kế. Điều này ảnh hƣởng rất lớn đến hiệu quả vận hành của toàn hệ thống nhà máy điện cũng nhƣ nguy cơ mất an toàn cho cấu trúc của bình ngƣng. Vì vậy, đòi hỏi phải có bộ điều khiển tự động đáp ứng đƣợc các yêu cầu cần thiết giúp cho bình ngƣng cũng nhƣ chế độ vận hành của hệ thống đạt đƣợc hiệu quả cao nhất.
Trong phạm vi của đề tài chỉ đề cấp đến đối tƣợng nghiên cứu là các nhà máy nhiệt điện đốt than dùng tuabin ngƣng hơi với bình ngƣng kiểu ống có nƣớc làm lạnh đi bên trong. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CÁC HỆ THỐNG TRONG NHÀ MÁY ĐIỆN 1.1 Nguồn cấp Năng lƣợng Việt Nam Hiện nay ở nƣớc ta có 2 nguồn sản xuất điện năng chủ yếu đó là thủy điện và nhiệt điện. Nhiệt điện hiện nay chủ yếu là 3 nguồn: nhiệt điện than, nhiệt điện khí và nhiệt điện dầu. Thời gian gần đây một số dự án sử dụng các nguồn năng lƣợng tái tạo nhƣ gió và mặt trời đƣợc ứng dụng nhiều hơn, góp phần tạo thêm nguồn cung cấp điện năng.
Tổng công suất lắp đặt nguồn điện tính đến ngày 31/12/2010 là 21.250MW, trong đó thuỷ điện chiếm tỷ trọng là 38%, nhiệt điện là 56%, diesel và nguồn điện nhỏ khác là 2% và điện nhập khẩu là 4%. Trong các nguồn cung cấp điện chính thì thủy điện vẫn chiếm tỷ trọng cao, đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu. Năm 2010 tỷ trọng các nguồn điện từ thủy điện vẫn chiếm mức cao nhất trong các nguồn sản xuất. Tuy nhiên trong kế hoạch phát triển nguồn điện theo Quy hoạch điện VII của chính phủ thì tỷ trọng thủy điện sẽ giảm dần trong cơ cấu tổng nguồn điện sản xuất.
Điều đó đƣợc thể hiện khi từ 2006 đến 2010 tỷ trọng các nguồn thủy điện giảm từ 46.63% xuống còn 38%, thay vào đó là sự gia tăng của các nguồn nhiệt điện bao gồm nhiệt điện than và nhiệt điện khí. Theo kế hoạch phát triển nguồn cung điện của EVN thì đến năm 2025 sẽ chú trọng nâng dần tỷ trọng của nhiệt điện than trong cơ cấu, giảm mạnh tỷ trọng của thủy điện và nhiệt điện khí, đáng chú ý hơn là sự xuất hiện và đóng góp đáng kể của các nguồn năng lƣợng mới đó là năng lƣợng nguyên tử và năng lƣợng tái tạo.1: Cơ cấu nguồn điện năm 2010-2020 5 1.2Nhà máy nhiệt điện Trong nhà máy nhiệt điện, cơ năng đƣợc tạo ra bởi động cơ nhiệt. Động cơ nhiệt tạo ra cơ năng bằng nhiệt đƣợc lấy bằng cách đốt nhiên liệu. Cơ năng ở đây đƣợc lƣu trữ dƣới dạng động năng quay của tuabin.
Khoảng 80% các nhà máy điện dùng tuabin hơi nƣớc, tức là dùng sử dụng hơi nƣớc đã đƣợc làm bốc hơi bởi nhiệt để quay tuabin. Theo định luật hai nhiệt động lực học, nhiệt năng không thể chuyển hết thành cơ năng. Do đó luôn có mất mát nhiệt ra môi trƣờng. Lƣợng nhiệt mất mát này có thể đƣợc sử dụng vào các mục đích khác nhƣ sƣởi ấm, khử muối của nƣớc.
Nhiệt điện đốt than ở Việt Nam có vai trò quan trọng trong cơ cấu sản xuất điện năng. Ƣu thế cơ bản của nhiệt điện đốt than là giá than ổn định và có thể cạnh tranh với các nguồn nhiên liệu khác. Ở Việt Nam, than có trữ lƣợng khá lớn với hai loại chủyếu là than antraxit Quảng Ninh và than nâu vùng đồng bằng Bắc Bộ. Hiện nay, than antraxit đang đƣợc khai thác với quy mô lớn và đáp ứng hầu hết nhu cầu trong nƣớc và xuất khẩu.
Nguồn than nâu đƣợc dự báo là có trữ lƣợng rất lớn nhƣng nằm sâu trong lòng đất, khó khai thác. Loại than này chƣa đƣợc khai thác, nhƣng trong tƣơng lai, đây sẽ là nguồn nhiên liệu quan trọng.