Luận án tiến sĩ nông nghiệp nghiên cứu xác định giống lúa chất lượng ngắn ngày và một số biện pháp kỹ thuật thâm canh phù hợp phục vụ sản xuất lúa vùng đồng bằng sông hồng

Luận án tiến sĩ kỹ thuật phân tích nông nghiệp nghiên cứu xác định giống lúa chất lượng ngắn ngày và một số biện pháp kỹ thuật thâm, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực

Chuyên ngành

Khoa học cây trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

196
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giống lúa và chất lượng lúa

Nghiên cứu tập trung vào việc xác định các giống lúa ngắn ngày có chất lượng lúa cao, phù hợp với điều kiện sinh thái vùng đồng bằng sông Hồng. Các giống lúa được đánh giá dựa trên thời gian sinh trưởng, năng suất, và khả năng chống chịu sâu bệnh. Kết quả nghiên cứu đã xác định được hai giống lúa triển vọng là BH9ĐS3, có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, và chất lượng gạo tốt.

1.1. Đặc điểm nông học của giống lúa

Các giống lúa được nghiên cứu có đặc điểm nông học nổi bật như thời gian sinh trưởng ngắn (130-135 ngày vụ Xuân, 105-110 ngày vụ Mùa), khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, và năng suất ổn định. Giống BH9 có dạng hình đẹp, thân cứng, lá đứng, và đẻ nhánh khá. Giống ĐS3 có khả năng chống đổ và chịu rét tốt, phù hợp với điều kiện thời tiết vùng đồng bằng sông Hồng.

1.2. Chất lượng gạo và cơm

Chất lượng gạo của các giống lúa được đánh giá dựa trên hàm lượng amylose thấp (dưới 20%) và nhiệt độ hóa hồ ở mức trung bình. Kết quả cho thấy cả hai giống BH9ĐS3 đều có chất lượng cơm ngon, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Điều này giúp nâng cao giá trị hàng hóa của lúa gạo trong khu vực.

II. Biện pháp thâm canh lúa

Nghiên cứu đề xuất các biện pháp thâm canh hiệu quả để tối ưu hóa năng suất và chất lượng lúa. Các biện pháp bao gồm điều chỉnh mật độ cấy và liều lượng phân bón phù hợp với từng giống lúa. Kết quả cho thấy việc áp dụng các biện pháp này giúp tăng năng suất và giảm thiểu tác động của sâu bệnh.

2.1. Mật độ cấy và phân bón

Đối với giống ĐS3, mật độ cấy 55 khóm/m² và bón 8 tấn phân chuồng cùng với 100 kg N, 90 kg P2O5, và 90 kg K2O/ha cho vụ Xuân đạt hiệu quả cao. Giống BH9 được khuyến cáo cấy với mật độ 45 khóm/m² và bón lượng phân tương tự. Các biện pháp này giúp tăng năng suất và đảm bảo chất lượng lúa.

2.2. Hiệu quả kinh tế

Việc áp dụng các biện pháp thâm canh đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân. Mô hình thâm canh giống ĐS3BH9 tại các tỉnh đại diện vùng đồng bằng sông Hồng cho thấy lợi nhuận tăng đáng kể so với các giống lúa truyền thống.

III. Phát triển nông nghiệp bền vững

Nghiên cứu góp phần vào phát triển nông nghiệp bền vững tại vùng đồng bằng sông Hồng bằng cách cung cấp các giống lúa chất lượng cao và quy trình canh tác hiệu quả. Điều này giúp nâng cao thu nhập cho nông dân và đảm bảo an ninh lương thực.

3.1. Đóng góp vào cơ cấu giống lúa

Việc bổ sung hai giống lúa BH9ĐS3 vào cơ cấu giống lúa chất lượng cao giúp đa dạng hóa sản phẩm và tăng giá trị hàng hóa. Điều này phù hợp với xu hướng chuyển đổi sang sản xuất lúa chất lượng cao tại vùng đồng bằng sông Hồng.

3.2. Khả năng thích ứng và ổn định

Các giống lúa được nghiên cứu có khả năng thích ứng cao với điều kiện sinh thái và ổn định năng suất qua các vụ mùa. Điều này giúp giảm thiểu rủi ro trong sản xuất và đảm bảo nguồn cung lúa gạo ổn định cho thị trường.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nông nghiệp nghiên cứu xác định giống lúa chất lượng ngắn ngày và một số biện pháp kỹ thuật thâm canh phù hợp phục vụ sản xuất lúa vùng đồng bằng sông hồng

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Sau gần 30 năm đổi mới, một trong những thành tựu lớn nhất của nông nghiệp Việt Nam là sự phát triển của ngành lúa gạo. Từ một nước thiếu lương thực trong thập niên bảy mươi và nửa đầu thập niên tám mươi của thế kỷ trước, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo vào năm 1989, chỉ bốn năm sau khi đổi mới và sau đó đến nay liên tiếp giữ vị trí là nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Sự phát triển của ngành lúa gạo đã đóng góp to lớn cho đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và xoá đói giảm nghèo.

Chúng ta không những có đủ lương thực tiêu dùng trong nước mà còn dư một lượng lớn để phục vụ xuất khẩu. “Phạm Thị Thanh Bình, Viện - Kinh tế và Chính trị Thế giới, Phát triển nông nghiệp Việt Nam, Thành tựu và hạn chế. 2017” Góp phần vào thành tích to lớn trên trước hết phải kể đến sự đóng góp quan trọng của các giống lúa mới cùng với việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và chủ trương chính sách của Nhà nước về phát triển nông nghiệp. Mặc dù đã đạt được thành tựu to lớn nhưng ngành lúa gạo Việt Nam trong quá trình phát triển đã bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế.

Giá trị gia tăng của ngành lúa gạo giảm dần do sản xuất và kinh doanh hiệu quả thấp, thu nhập của nông dân trồng lúa giảm sút và không tương xứng với các tác nhân khác tham gia kinh doanh lúa gạo. Vùng Đồng bằng sông Hồng có diện tích tự nhiên là 2,06 triệu ha và gần 20 triệu dân, diện tích lúa gieo cấy hàng năm khoảng hơn 1 triệu ha, chiếm 88% diện tích cây lương thực của vùng và chiếm khoảng 14% diện tích gieo trồng lúa của cả nước. Tuy đất không rộng nhưng đây là vùng sản xuất lúa có trình độ thâm canh cao. Sản xuất lúa ở ĐBSH hướng đến thị trường nội địa, bao gồm thị trường lớn là thủ đô Hà Nội và các đô thị trong vùng, với xu thế tiêu dùng gạo 2 chất lượng cao gia tăng.

Vì vậy, vùng ĐBSH sẽ chuyển hướng mạnh sang sản xuất lúa chất lượng cao và quy hoạch các vùng sản xuất lúa đặc sản địa phương, lúa nếp, lúa Japonica. Tuy nhiên vùng này còn thiếu bộ giống lúa chất lượng cao, có giá trị hàng hóa, số lượng giống chất lượng cao phát triển rộng rãi trong sản xuất còn ít. Một số giống lúa chất lượng là giống chủ lực trong sản xuất nhưng bị nhiễm nặng sâu bệnh hại, nhiều vụ gây thiệt hại lớn cho sản xuất. Một giải pháp quan trọng góp phần tái cấu trúc ngành lúa gạo nước ta nhằm nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững là nghiên cứu đưa vào sản xuất các giống lúa chất lượng và có giá trị hàng hóa cao trên thị trường lúa gạo thế giới và trong nước.

(Theo https://vi.org/wiki/Đồng_bằng_sông_Hồng). Ðể nâng cao chất lượng lúa gạo thì khâu cơ bản là nghiên cứu chọn tạo, cải tiến giống để có những giống lúa có chất lượng giá trị hàng hóa cao hơn, kết hợp với việc xác định các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp phát huy được tiềm năng của giống; thực tế chứng minh rằng đây là con đường nhanh và tiết kiệm để nâng cao chất lượng lúa gạo. Trên cơ sở đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu xác định giống lúa chất lượng, ngắn ngày và một số biện pháp kỹ thuật thâm canh phù hợp phục vụ sản xuất lúa vùng Đồng bằng sông Hồng” 1. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1.

Mục tiêu Xác định được giống lúa ngắn ngày, chất lượng cao, chống chịu được với sâu bệnh và điều kiện bất thuận vùng Đồng bằng sông Hồng. Đề xuất quy trình kỹ thuật thâm canh các giống lúa được xác định nhằm phục vụ sản xuất lúa chất lượng vùng Đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH). Yêu cầu Tuyển chọn được giống lúa có thời gian sinh trưởng từ 130-135 ngày trong vụ Xuân, 105-110 ngày trong vụ Mùa, năng suất đạt từ 6,0-7,0 tấn/ha 3 trong vụ Xuân và 5,5-6,0 tấn/ha trong vụ Mùa, chất lượng cơm ngon, hàm lượng Amylose thấp (dưới 20%), nhiệt độ hóa hồ ở mức trung bình, giống sinh trưởng phát triển tốt, ít nhiễm sâu bệnh hại, có tính thích nghi và độ ổn định cao, phù hợp với sản xuất lúa tại các tỉnh Đồng bằng sông Hồng. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.

Ý nghĩa khoa học - Các kết quả thu được của Luận án cung cấp thêm những dẫn liệu khoa học phục vụ công tác nghiên cứu chọn tạo, tuyển chọn giống lúa ngắn ngày chất lượng cho vùng Đồng bằng sông Hồng. - Bổ sung một số biện pháp kỹ thuật canh tác để tăng hiệu quả sản xuất lúa chất lượng cao cho vùng Đồng bằng sông Hồng. - Cung cấp nguồn vật liệu khởi đầu cho công tác nghiên cứu, chọn tạo giống lúa ngắn ngày, chất lượng. - Kết quả của Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực chọn tạo và sản xuất lúa.

Ý nghĩa thực tiễn - Đã tuyển chọn được 1 giống lúa Japonica (ĐS3) và 1 giống lúa Indica (BH9), có thời gian sinh trưởng ngắn, sinh trưởng phát triển tốt, năng suất, chất lượng cao bổ sung vào cơ cấu giống lúa chất lượng, góp phần tăng thêm hiệu quả sản xuất lúa cho vùng Đồng bằng sông Hồng. - Khuyến cáo cho người sản xuất lúa ở vùng Đồng bằng sông Hồng thực hiện theo quy trình kỹ thuật canh tác giống lúa mới chất lượng, ngắn ngày đạt hiệu quả cao 1. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 1. Đối tượng nghiên cứu Các giống lúa ngắn ngày, năng suất, chất lượng được chọn tạo và nhập nội từ các nguồn trong và ngoài nước.

Phạm vi nghiên cứu 1. Về giống lúa: Nghiên cứu về đặc điểm nông học, tiềm năng năng suất, chất lượng, tính chống chịu sâu, bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận; khả năng thích nghi với điều kiện sinh thái vùng Đồng bằng sông Hồng của 16 giống lúa làm vật liệu nghiên cứu. Về Kỹ thuật canh tác: - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác (mật độ cấy và liều lượng bón đạm) đối với 2 giống lúa đã được tuyển chọn - Xây dựng mô hình thâm canh cho 2 giống lúa mới được tuyển chọn tại 3 tỉnh đại diện vùng Đồng bằng sông Hồng. Đóng góp mới của luận án - Đã xác định được 2 giống lúa có nhiều đặc điểm tốt triển vọng nhằm bổ sung vào cơ cấu giống lúa chất lượng cho vùng Đồng bằng sông Hồng gồm: Giống BH 9 (Bắc hương 9) có thời gian sinh trưởng (130-135 ngày trong vụ Xuân, 105-110 ngày trong vụ Mùa), ít nhiễm sâu bệnh hại, giống sinh trưởng phát triển tốt, dạng hình đẹp, cây gọn, thân cứng, lá đứng, bền lá, đẻ nhánh khá, năng suất cao và ổn định (vụ Xuân đạt từ 5,50- 6,35 tấn/ha, vụ Mùa đạt 5,4-5,8 tấn/ha); Giống lúa ĐS3 có thời gian sinh trưởng vụ Xuân 130-135 ngày, vụ Mùa 105-110 ngày, năng suất đạt từ 6,0-7,5 tấn/ha trong vụ Xuân và 5,5-6,0 tấn/ha trong vụ Mùa, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, chống đổ và chịu rét tốt.

- Đã đề xuất được biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp đối với 2 giống lúa ĐS3 và BH9 trên đất phù sa vùng Đồng bằng sông Hồng. Ở vụ Xuân, giống ĐS3 cấy mật độ 55 khóm/m2, bón 8 tấn phân chuồng +100 kg N + 90 kg P2O5 + 90 kg K2O; Giống BH 9 cấy mật độ 45 khóm/m2, bón 8 tấn phân chuồng + 100 kg N + 90 kg P2O5 + 90 kg K2O). Ở vụ Mùa, giống ĐS3 cấy mật độ 50 khóm/m2 và bón 8 tấn phân chuồng + 90 kg N+ 90 kg P2O5 + 90 kg K2O/ha; Giống BH 9 cấy mật độ 45 khóm/m2 và bón 90kg N + 90 kg P2O5 + 90 kg K2O /ha. 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.

Vị trí địa lý, đặc điểm khí hậu và đất trồng lúa vùng Đồng bằng sông Hồng Đồng bằng sông Hồng (hay châu thổ sông Hồng) là một vùng đất rộng lớn nằm quanh khu vực hạ lưu sông Hồng thuộc miền Bắc Việt Nam, vùng đất bao gồm 11 tỉnh và thành phố. Vị trí địa lý của Đồng bằng sông Hồng trải rộng từ vĩ độ 21°34´B (huyện Lập Thạch) tới vùng bãi bồi khoảng 19°5´B (huyện Kim Sơn), từ 105°17´Đ (huyện Ba Vì) đến 107°7´Đ (trên đảo Cát Bà). Phía bắc và đông bắc là Vùng Đông Bắc (Việt Nam), phía tây và tây nam là vùng Tây Bắc, phía đông là vịnh Bắc Bộ và phía nam vùng Bắc Trung Bộ.Toàn vùng có diện tích: 23.336 km², chiếm 7,1 % diện tích của cả nước. Địa hình tương đối bằng phẳng, hướng thấp dần từ Tây Bắc-Đông Nam, trong vùng có nhiều ô trũng (Hà Nam - Nam Định - Ninh Bình).

Đất đai chủ yếu là đất phù sa màu mỡ. Đặc trưng khí hậu của vùng là mùa Đông từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau là mùa khô. Mùa Xuân có tiết mưa phùn tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng phát triển tốt. Đất đai của vùng rất thích hợp cho thâm canh lúa nước, trồng màu và các cây công nghiệp hàng năm.

Vùng có diện tích trồng cây lương thực đứng thứ 2 trong cả nước với diện tích đạt 1. Về sản xuất nông nghiệp: Trong các cây lương thực, lúa có ý nghĩa quan trọng nhất cả về diện tích và sản lượng. Năm 2010, so với cả nước, diện tích gieo trồng lúa của Đồng bằng sông Hồng có 1.150,1 nghìn ha; chiếm 15,3% diện tích gieo trồng lúa của cả nước; năng suất đạt 5,92 tấn/ha/vụ, cao hơn 12%; sản lượng lúa đạt 6,83 triệu tấn bằng 17,5%. Cây lúa có mặt ở hầu hết các nơi, nhưng tập trung nhất và đạt năng suất cao nhất là ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, Ninh Bình.

Thái Bình trở thành tỉnh 6 dẫn đầu cả nước về năng suất lúa (6,16 tấn/ha). Nhiều huyện, hợp tác xã đạt năng suất 8 - 10 tấn/năm. Các yếu tố hạn chế đến năng suất lúa vùng Đồng bằng sông Hồng Do nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên thường xuyên xảy ra bão lũ, hạn hán, sương muối. Bên cạnh đó vùng cũng thường xuyên xảy ra tình trạng thừa nước trong mùa mưa và thiếu nước trong mùa khô.

Sử dụng quá mức phân bón hóa học, thuốc phòng trừ sâu bệnh làm cho đất bị cứng (xi măng hóa) và huỷ diệt đa dạng sinh học; áp dụng chế độ canh tác không hợp lý làm xói mòn đất đai.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu giống lúa chất lượng ngắn ngày và biện pháp thâm canh hiệu quả tại đồng bằng sông Hồng là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc phát triển các giống lúa chất lượng cao, có thời gian sinh trưởng ngắn, phù hợp với điều kiện canh tác tại khu vực đồng bằng sông Hồng. Nghiên cứu này không chỉ đề xuất các biện pháp thâm canh hiệu quả nhằm tăng năng suất và chất lượng lúa mà còn giúp nông dân tối ưu hóa quy trình sản xuất, giảm thiểu chi phí và rủi ro. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho những ai quan tâm đến nông nghiệp bền vững và cải thiện hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa gạo.

Để mở rộng kiến thức về các giống lúa và hiệu quả kinh tế, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ đánh giá hiệu quả kinh tế của giống lúa GS9 tại xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Ngoài ra, nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu về giống nếp, Luận văn đánh giá khả năng phân ly của giống nếp thầu dầu tại Phú Bình cũng là một tài liệu đáng xem. Cả hai tài liệu này đều cung cấp góc nhìn sâu sắc và bổ sung kiến thức liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp và cây lương thực.