MỞ ĐẦU Thể dục thể thao là một hoạt động không thể thiếu trong nền văn hoá của mỗi dân tộc cũng nhƣ nền văn minh nhân loại. Ngay từ khi mới ra đời thể dục thể thao là một bộ phận hữu cơ của nền văn hoá xã hội, mang đầy đủ tính lịch sử, tính kế thừa, tính giai cấp và tính dân tộc. Thành tích của vận động viên (VĐV) là thƣớc đo trình độ thể thao của một quốc gia, từ đó có thể đánh giá đƣợc sự phát triển của quốc gia, dân tộc đó… Chính vì vậy phát triển thể thao thành tích cao đƣợc coi là một nhiệm vụ chính trị nhằm phát huy truyền thống của dân tộc, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân, đề cao sức mạnh ý chí tinh thần, tự hào dân tộc, góp phần nâng cao uy tín và vị thế của mỗi dân tộc. Thể thao thành tích cao có vị trí quan trọng trong việc phát triển thể dục thể thao, nâng cao sức khỏe và năng lực con ngƣời, có tác dụng to lớn trong việc tăng cƣờng tình đoàn kết hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc và góp phần nâng cao uy tín của địa phƣơng, đất nƣớc.
Ở nƣớc ta, Đảng và Nhà nƣớc rất quan tâm đến công tác thể dục thể thao, trong đó có việc phát triển thể thao thành tích cao. Chủ trƣơng này đƣợc thể hiện qua các hệ thống chính sách cụ thể: “Nhà nƣớc có chính sách phát triển thể thao thành tích cao, đầu tƣ xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại; đào tạo bồi dƣỡng VĐV, huấn luyện viên đạt trình độ quốc gia, quốc tế; tổ chức thi đấu thể thao thành tích cao; tham gia các giải thể thao quốc tế; khuyến khích tổ chức cá nhân tham gia phát triển thể thao thành tích cao” (Điều 31 Luật thể dục thể thao số 77/2006/QH11). Vì mục tiêu “Năm 2019: phấn đấu đạt vị trí 14 – 12 tại ASIAD 18; Năm 2020: Phấn đấu có khoảng 45 vận động viên vƣợt qua các cuộc thi vòng loại, có huy chƣơng tại Đại hội Thể thao Olympic lần thứ 32…” Ở những quốc gia có nền thể thao phát triển hàng đầu thế giới nhƣ Mỹ, Nga, Anh, Trung Quốc hay Nhật Bản… để có một VĐV ƣu tú với đẳng cấp vƣợt trội là cả một quá trình tuyển chọn, nuôi dƣỡng và đào tạo bài bản từ khi 1 còn rất nhỏ, kết hợp với việc đầu tƣ trang thiết bị, máy móc hiện đại hỗ trợ cho từng bộ môn. Đặc biệt là áp dụng công nghệ Y – Sinh học để xác định bộ môn năng khiếu hay nội dung thi đấu phù hợp với tố chất mỗi VĐV nhằm phát huy đƣợc tối đa năng lực của họ.
Việc tuyển chọn vận động viên là nhằm phát hiện ra những ứng viên có năng khiếu đặc biệt về thể thao. Năng khiếu thể thao là sự kết tinh của nhiều yếu tố, kể cả những tố chất tâm-sinh lý và đặc điểm ƣu việt về thể lực của một cá nhân. Do đó, đứng trên quan điểm khoa học, việc tuyển chọn vận động viên thích hợp cho từng bộ môn thể thao nên dựa vào những đặc điểm về thể chất và thể lực của một cá nhân. Tuy nhiên, các huấn luyện viên thể thao tuyển chọn vận động viên hiện nay lại không dựa vào những tiêu chuẩn khoa học định lƣợng (1, 2).
Theo truyền thống, lực lƣợng vận động viên từ những cá nhân tham gia hội khoẻ Phù Đổng ở các tỉnh thành có thành tích tốt ở một môn thể thao. Các cá nhân này có thể có thành tích tốt tại thời điểm hoặc giai đoạn nào đó, nhƣng sau một thời gian huấn luyện thành tích các ứng viên đƣợc tuyển chọn có cải thiện nhƣng vẫn chƣa đạt đến mức “nhân tài thể thao”. Có thể nói rằng cách tuyển dụng nhƣ thế gây lãng phí thời gian, tiền của và công sức của nhiều ngƣời. Nƣớc ta có nhu cầu tuyển chọn viên vận động viên và huấn luyện thành những vận động viên ƣu tú (ngƣời tài thể thao).
Những vận động viên ƣu tú là những ngƣời có thành tích tốt nhất ở một môn thể thao, có thể đại diện cho quốc gia để tham gia tranh tài trên các đấu trƣờng khu vực, châu lục và thế giới. Những yếu tố sinh học và thể lực có liên quan đến khả năng vận động thể lực của vận động viên, có thể kể đến cơ cấu lƣợng cơ và xƣơng của cơ thể. Lƣợng cơ thiếu sẽ làm cho vận động viên khó chạy, khó bơi lội, hay khó đạp xe vì thiếu sức mạnh. Thiếu mật độ xƣơng làm tăng nguy cơ bị tổn thƣơng khi vận động hoặc khi huấn luyện, và có nguy cơ gãy xƣơng cao.
Do đó, những vận động viên ƣu tú cần phải có đầy đủ lƣợng cơ, lƣợng mỡ ở mức tối ƣu cho 2 sức khoẻ và đầy đủ mật độ xƣơng. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta chƣa có một nghiên cứu nào đánh giá các chỉ số sinh học này ở vận động viên. Trong những năm gần đây, có rất nhiều các nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố ảnh hƣởng đến sự thành công của các VĐV đỉnh cao, bao gồm: yếu tố di truyền, yếu tố về chế độ tập luyện, chế độ dinh dƣỡng, cảm xúc, môi trƣờng và thiết bị luyện tập, trí tuệ, khả năng nhận thức và các yếu tố môi trƣờng khác. Tuy nhiên, yếu tố di truyền đƣợc xác định là quyết định tới 50% vai trò ảnh hƣởng lên sự vận động thể chất của con ngƣời (Hopkins, 2001).
Một báo cáo của Ahmetov và Rogozkin năm 2009 cũng cho rằng, yếu tố di truyền quyết định tới 66% sự thành công ở các VĐV đỉnh cao. Bản đồ gene ngƣời đƣợc công bố năm 2007 cũng đã đƣa ra 239 gene có ảnh hƣởng đến hoạt động thể chất, trong đó có 214 gene trên nhiễm sắc thể thƣờng, 7 gene trên nhiễm sắc thể X và 18 gene ty thể. Đặc biệt, dựa trên các nghiên cứu ở cấp độ phân tử, các nhà khoa học đã tìm ra khoảng 36 gene đóng vai trò quyết định tới đặc tính sức mạnh và sức bền của các hoạt động thể chất, đƣợc phân loại thành các nhóm chỉ thị di truyền liên quan đến thông số sức mạnh và sức bền của các VĐV thể thao (Ahmetov và cs, 2012). Những công bố này nhƣ một nền tảng vững chắc cho việc ứng dụng công nghệ gene trong phân loại, đào tạo và tuyển chọn VĐV.
Nghiên cứu gene thể thao nên đƣợc tiến hành trên nhiều gene khác nhau có liên quan đến thành tích thể thao để tìm ra các biến dị đặc trƣng quan trọng. Các biến dị này giúp xác định kiểu gene liên quan đến thành tích thể thao, và sự kết hợp của tất cả các kiểu gene này sẽ giúp xác định kiểu hình khả năng thể thao tổng hợp. Một ví dụ điển hình về một loại gene thể thao đƣợc nghiên cứu rất kỹ và cũng đƣợc phân tích trong báo cáo này đó là gene ACTN3 (gene tốc độ). Gene này thƣờng “Mở” ở những ngƣời có sợi cơ co nhanh và thích hợp với những môn thể thao đòi hỏi tốc độ nhƣ môn chạy cự ly ngắn; nhƣng nó thƣờng “Đóng” ở những ngƣời có khả năng phù hợp với 3 những môn thể thao đòi hỏi sức bền.
Điều này lý giải tại sao cùng một ngƣời có thể chạy cự ly 100 m rất thành công nhƣng lại không thể tham gia chạy cự ly trung bình 1500 m hoặc chạy marathon. Khảo sát cho thấy, có một sự “đánh đổi” giữa độ bền và độ nhanh – mạnh, có nghĩa là nếu bạn có sức bền tốt thì độ nhanh – mạnh của bạn sẽ không cao và ngƣợc lại. Cực kỳ khó để tìm ra một ngƣời có thiên bẩm cả về sức bền lẫn sức mạnh ở mức độ cao (Hopkins, 2001). Trong số các gene có liên quan đến thành tích thể thao, biến dị di truyền của gene ACTN3 đƣợc tập trung nghiên cứu nhiều với các công trình công bố trên các tạp chí khoa học thể thao uy tín trên thế giới vì chúng đƣợc cho rằng có mối quan hệ mật thiết đến thành tích thể thao của VĐV.
Tuy nhiên, trong số các nghiên cứu đã thực hiện, có những nghiên cứu cho kết quả phủ nhận giả thuyết này. Chính vì thế, việc thực hiện nghiên cứu trên từng quốc gia/dân tộc để xem xét, kiểm chứng lại giả thuyết đã đƣa ra là vô cùng cần thiết. Ở Việt Nam việc ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ, y – sinh học trong thể thao còn hạn chế. Để tạo bƣớc phát triển đột phá cho thể thao thành tích cao, cần tập trung đầu tƣ vào những môn thể thao trọng điểm (nhƣ điền kinh, bơi lội, cử tạ, thể dục dụng cụ, bắn súng…) theo hƣớng tiếp cận với thành tích của châu lục và thế giới bằng việc áp dụng những thành tựu của công nghệ gene trong công tác tuyển chọn, đào tạo VĐV.
Nâng cao thành tích thể thao cũng là góp phần nâng cao hình ảnh và vị thế của Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế. Với những lý do trên, chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu: “Xác định thành phần cơ thể và gen đặc trưng của vận động viên cấp cao theo đặc điểm môn thể thao trọng điểm (Điền kinh, Bơi lội,Thể dục dụng cụ, Cử tạ, Bắn súng)”, nghiên cứu thuộc Chƣơng trình cấp Bộ “Nghiên cứu mô hình vận động viên cấp cao một số môn thể thao trọng điểm hƣớng đến ASIAD, Olympic (Cử tạ, Bơi lội, Điền kinh, Thể dục dụng cụ, Bắn súng)”. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các số liệu 4 khoa học cơ bản về xác định thành phần cơ thể, phân tích mối tƣơng quan giữa thành phần cơ thể và sức mạnh của cơ; về việc xác định, phân tích kiểu gene ACTN3 của VĐV đạt thành tích cao ở bộ môn bơi lội, điền kinh, cử tạ, bắn súng và thể dục dụng cụ từ đó luận giải, đề xuất lựa chọn các chỉ số hình thái, thành phần cơ thể và kiểu gene có ƣu thế ứng dụng trong việc tuyển chọn ban đầu và phân loại VĐV trong tƣơng lai. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dữ liệu cơ sở cho việc mở rộng nghiên cứu các gene khác và đề xuất các hƣớng nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo để ứng dụng thành công công nghệ gene trong công tác tuyển chọn và đào tạo VĐV có thành tích cao của Việt Nam.
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU - Xác định thành phần cơ thể, phân tích mối tƣơng quan giữa thành phần cơ thể và sức mạnh của cơ; - Xác định kiểu gene ACTN3 của VĐV cấp cao ở một số môn thể thao, từ đó lựa chọn kiểu gene có ƣu thế để kiểm chứng phục vụ công tác tuyển chọn VĐV.