CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU VỀ MÀI VÀ MÀI LỖ 1. Giới thiệu về gia công mài.1 Đặc điểm cơ bản của mài Mài là phương pháp cắt gọt vật liệu bằng các hạt mài có độ cứng cao. Các hạt mài được liên kết với nhau bằng chất dính kết tạo nên đá mài. Gia công bằng mài có nhiều đặc điểm khác biệt so với các phương pháp gia công cắt gọt khác.
Cụ thể như sau: - Đá mài có thể coi là dụng cụ cắt có rất nhiều lưỡi cắt đồng thời tham gia cắt. Các lưỡi cắt được tạo ra bởi các hạt mài có kích thước rất nhỏ, có hình dáng rất khác nhau và phân bố ngẫu nhiên. Đa số các hạt mài có nhiều lưỡi cắt, có góc lượn ở đỉnh và có góc cắt không thuận lợi cho điều kiện cắt gọt: góc trước thường âm và góc cắt β thường lớn hơn 900. - Tốc độ cắt khi mài rất cao.
Thông thường tốc độ cắt khi mài từ 30 đến 40 m/s. Mài tốc độ cao có thể lên tới 100 m/s hoặc hơn. - Nhiệt độ ở vùng cắt khi mài rất lớn (1000 ÷ 15000C) do góc cắt của các hạt mài không hợp lý và tốc độ cắt cao. Điều đó có thể làm thay đổi cấu trúc tế vi lớp kim loại bề mặt hoặc gây rạn, nứt tế vi bề mặt.
- Khi mài, mỗi hạt mài tạo ra một phoi riêng biệt có kích thước rất nhỏ. Số lượng phoi tạo ra trong một đơn vị thời gian rất lớn (hàng nghìn phoi trong một phút). Nhờ đó quá trình mài có thể tạo ra bề mặt gia công có độ bóng và độ chính xác cao. - Hạt mài có độ cứng cao, cắt gọt không liên tục nên có thể gia công được những vật liệu rất cứng mà các dụng cụ khác không cắt được như thép tôi, hợp kim cứng… Tuy nhiên, khi gia công những vật liệu rất mềm lại rất khó khăn hoặc không thể.
- Trong quá trình cắt, đá mài có khả năng tự mài sắc: dưới tác dụng của tải trọng cơ, nhiệt các hạt mài đã mòn bật ra khỏi bề mặt đá tạo điều kiện cho những hạt mài mới tham gia vào quá trình cắt, ngoài ra một số hạt mài vỡ tạo thành những lưỡi cắt mới. 6 - Do hiện tượng tự mài sắc cũng như không thể chủ động thay đổi được hình dáng và vị trí của hạt mài trong đá mài cho nên việc nghiên cứu và điều khiển quá trình mài gặp nhiều khó khăn. Do những đặc điểm trên, đặc biệt là khả năng gia công các vật liệu có độ cứng và độ bền cao cho độ chính xác và độ bóng bề mặt cao nên phương pháp mài có vị trí quan trọng trong gia công cơ khí. Mặc dù mài được sử dụng cả trong gia công thô nhưng chỉ trong gia công tinh và bán tinh thì những ưu thế của phương pháp mài mới thực sự được phát huy.
Do vậy mài thường được chọn là nguyên công gia công tinh lần cuối các bề mặt quan trọng [7]. Khả năng công nghệ của mài Mài là phương pháp gia công có khả năng gia công được nhiều dạng bề mặt như mặt trụ ngoài và trong, mặt phẳng, mặt định hình. Một số dạng mài thường gặp được chỉ ra trong các hình sau: * Mài tròn ngoài có tâm: Hình 1.1 Sơ đồ nguyên lý mài tròn ngoài chạy dao dọc11 Phương pháp mài tròn ngoài ăn dao dọc thường sử dụng khi mài các bề mặt có chiều dài lớn hơn so với chiều rộng của đá mài. Sơ đồ nguyên lý mài tròn ngoài chạy dao ngang11 7 Phương pháp mài tròn ngoài ăn dao ngang hường dùng phương pháp này khi mài chi tiết có đường kính lớn, chiều dài bề mặt cần mài ngắn hơn chiều rộng đá, sản lượng lớn.
Cách mài này đòi hỏi độ cứng vững chi tiết lớn, máy có công suất lớn, đá rộng bản và sửa đá tốt. Sơ đồ nguyên lý mài tròn ngoài chạy dao xiên[15] Hình 1.3 là kiểu mài tiến dao xiên, đá được gá nghiêng một góc và có thể mài nhiều bề mặt cùng lúc, kiểu này cho năng suất cao nhưng khó đạt cấp chính xác cao do đá mòn không đều. * Mài tròn ngoài vô tâm: Hình 1. Sơ đồ nguyên lý mài tròn ngoài vô tâm 11 Mài vô tâm có ưu điểm là năng suất gia công cao, có thể mài các chi tiết nhỏ, ngắn,…Tuy nhiên lại có nhược điểm là không gia công được các bề mặt không liên tục nên chủ yếu dùng gia công trục trơn 8 * Mài tròn trong có tâm: Hình 1.
Sơ đồ nguyên lý mài tròn trong có tâm11 Mài tròn trong có tâm có thể gia công được các lỗ trụ, lỗ côn, được thực hiện trên các máy mài lỗ , máy mài tròn ngoài vạn năng. * Mài tròn trong vô tâm: Hình 1.6 Sơ đồ nguyên lý mài tròn trong vô tâm 11 Phương pháp này có khả năng đạt độ chính xác và độ đồng tâm rất cao. Thường dùng gia công các chi tiết có yêu cầu độ đồng tâm cao giữ lỗ và mặt trụ ngoài trong sản xuất loạt lớn và hàng khối, các chi tiết không thể gá trên máy mài tròn trong như các chi tiết thành mỏng, chiều dài ngắn. 9 * Mài phẳng: Hình 1.
Sơ đồ nguyên lý các phương pháp mài phẳng12 a, b- Mài phẳng bằng chu vi đá c, d, e- Mài phẳng bằng mặt đầu đá * Ngoài ra mài còn có khả năng gia công được những chi tiết khó định vị và kẹp chặt như: Xéc măng, viên bi v. Mài có khả năng gia công được hầu hết các loại vật liệu nhất là các loại vật liệu mới có cơ lý tính cao (độ bền, độ cứng, độ chịu nhiệt, chịu mài mòn). Lĩnh vực ứng dụng khác mà không có phương pháp nào cạnh tranh được với mài là trong gia công tạo hình các loại vật liệu đặc biệt cứng hoặc đặc biệt giòn. Trong sản xuất các chi tiết thép tôi như dụng cụ cắt, ổ lăn… mài có thể gia công khá dễ dàng trong khi các phương pháp gia công truyền thống khác gặp khó khăn.
Quá trình tách phoi của hạt mài Các hạt mài được giữ chặt trong đá mài bằng chất dính kết 13. Hạt mài có nhiều góc cắt và có bán kính tròn ở đỉnh ( hình 1. Cấu tạo hạt mài 13 Trong quá trình làm việc các bán kính này tăng dần lên. Khi đạt đến trị số đủ lớn hạt mài có thể bị phá thành những hạt khác nhau tạo ra những lưỡi cắt mới hoặc làm bật các hạt mài ra khỏi chất kết dính.
Vì vậy quá trình mài, sự tách phoi phụ thuộc vào hình dạng của các hạt mài. Quá trình tách phoi của hạt có thể chia làm 3 giai đoạn (hình 1.9) *) Giai đoạn 1 (trượt) : Gọi là bán kính cong của mũi hạt mài, chiều dày lớp kim loại được bóc đi là a. Ở giai đoạn đầu này mũi hạt mài bắt đầu va đập vào bề mặt gia công, lực va đập này phụ thuộc vào tốc độ mài và lượng tiến của đá vào bề mặt gia công, bán kính cong của mũi hạt hợp lý thì việc cắt gọt thuận tiện, nếu bán kính quá lớn so với chiều dày cắt a thì hạt mài sẽ trượt trên bề vật mài làm cho bề mặt gia công bị nung nóng với nhiệt cắt lớn (hình 1. *) Giai đoạn 2 (nén): Áp lực mài tăng lên, nhiệt cắt tăng lên, làm tăng biến dạng dẻo của kim loại, lúc này bắt đầu xẩy ra quá trình cắt phoi (hình 1.
*) Giai đoạn 3 (tách phoi): Khi chiều sâu lớp kim loại a > thì xảy ra việc tách phoi ((hình 1. Quá trình tách phoi của hạt mài 13 11 Khi bán kính hợp lý thì hạt mài sắc, cắt gọt tốt và lượng nhiệt giữ nhỏ hơn. Quá trình tách phoi xảy ra trong khoảng thời gian rất ngắn khoảng 0. Do đó các giai đoạn của quá trình cắt gọt diễn ra rất nhanh chóng.
Chất lượng bề mặt sau mài. Độ nhám bề mặt gia công sau mài Độ nhám bề mặt mài hình thành chủ yếu bởi các vết cào xước chồng lên nhau của các điểm cắt có chiều cao không bằng nhau (hình 1. Sự hình thành độ nhám bề mặt khi mài 19 1.Các yếu tố ảnh hưởng đến độ nhám bề mặt khi gia công mài. Độ nhám bề mặt mài chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: - Sự hình thành nhám bề mặt trước hết là do in dập quỹ đạo chuyển động của các hạt mài.
Vết của các hạt mài tạo ra biên dạng hình học tế vi trên bề mặt gia công. Chế độ cắt ảnh hưởng tới quỹ đạo chuyển động của các hạt mài vì vậy ảnh hưởng tới độ nhám bề mặt mài. - Độ hạt và chế độ sửa đá (Ssđ, tsđ) có ảnh hưởng tương tự nhau đến nhám bề mặt mài: hạt mài có kích thước lớn hơn, sửa đá thô dẫn đến độ nhám bề mặt tăng. - Rung động làm tăng độ nhám bề mặt.
- Mức độ biến dạng dẻo của vật liệu càng lớn thì độ nhám bề mặt càng cao: khi mài vật liệu dẻo, dai cho độ nhám bề mặt cao hơn so với mài vật liệu cứng, giòn. - Nhiệt độ ở vùng mài càng cao thì vật liệu gia công ở lớp bề mặt càng biến dạng dẻo mạnh đồng thời còn có thể gây cháy, nứt bề mặt: công nghệ tưới nguội, hệ 12 số truyền nhiệt của vật liệu gia công và của đá mài ảnh hưởng tới nhiệt độ ở vùng mài qua đó ảnh hưởng tới độ nhám bề mặt mài. Các phương pháp đánh giá độ nhám sau mài Để đánh giá độ nhám bề mặt người ta thường dùng các phương pháp sau: 1- Phương pháp quang học (dùng kính hiển vi Linich): phương pháp này đo được bề mặt có độ nhẵn bóng cao (độ nhám thấp) thường từ cấp 10 đến cấp 14. 2- Phương pháp đo độ nhám Ra, Rz, Rmax.bằng máy đo prôfin: phương pháp này sử dụng mũi dò để đo prôfin lớp bề mặt có cấp độ nhẵn đến cấp 11.
3- Phương pháp so sánh: - So sánh bằng mắt: dùng mắt quan sát và so sánh bề mặt gia công với bề mặt vật mẫu và kết luận xem bề mặt gia công đạt cấp độ bóng nào. Phương pháp này đơn giản, có thể xác định được cấp độ bóng từ cấp 3 đến cấp 7 nhưng độ chính xác thấp và phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của người thực hiện. - So sánh bằng kính hiển vi quang học: dùng kính hiển vi quang học để quan sát và so sánh bề mặt gia công với bề mặt vật mẫu và kết luận xem bề mặt gia công đạt cấp độ bóng nào. Phương pháp này có độ chính xác cao hơn nhưng vẫn phụ thuộc vào kinh nghiệm của người thực hiện.