CHƯƠNG 1: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1.1 Chuyển động ba chiều Định vị di chuyển hai chân trong không gian ba chiều có thể được thực hiện trên 3 mặt phẳng cơ sở vuông góc với nhau. Để hình dung điều này, kết cấu vị trí của các mặt phẳng được mô tả trong hình 1. Vị trí hình học của mặt phẳng đối xứng dọc là vị trí mặt phẳng đứng với mặt quay thẳng về phía trước và hai cánh tay duỗi thẳng dọc theo hai bên của cơ thể với lòng bàn tay quay thẳng về phía trước và chân thẳng đứng với hai bàn chân gần nhau và các ngón chân chỉ thẳng về phía trước. Mặt phẳng nằm ngang là mặt phẳng song song với mặt nền (giả thiết mặt nền là phẳng) đặt vuông góc với mặt phẳng đối xứng dọc.
Mặt phẳng chính diện đặt vuông góc với hai mặt phẳng: mặt phẳng đối xứng dọc và mặt phẳng nằm ngang. Véc tơ pháp tuyến của mặt phẳng này có phương hướng theo phương mắt nhìn thẳng của người quan sát. Những mặt phẳng được mô tả trong Hình 1. Vị trí giải phẫu của robot dáng người hình 1.
Ta đặt hệ trục cơ sở như Hệ trục cơ sở và các mặt phẳng sau: trục x chỉ về phía trước, trục y chỉ vào phía bên tay trái, và trục z hướng lên. Gốc hệ trục đặt dưới sàn nhà. Các định nghĩa của những mặt phẳng này là: 9 Mặt phẳng chính diện: Mặt phẳng song song với mặt phẳng yz được gọi là mặt phẳng chính diện (hình 1.2) Mặt phẳng đối xứng dọc : Mặt phẳng song song với mặt phẳng xz được gọi là mặt phẳng đối xứng dọc. Mặt phẳng song song với mặt phẳng đối xứng dọc và chứa khối tâm (CoM) được gọi là mặt phẳng trung bình.
Mặt phẳng ngang : Mặt phẳng song song với mặt phẳng xy được gọi là mặt phẳng nằm ngang.2 Các định nghĩa về dáng di Mô tả dáng đi của con người đòi hỏi một số thuật ngữ chuyên môn, các thuật ngữ quan trọng đối với sự vận động hai chân được định nghĩa dưới đây: Đi bộ (Walk) Đi bộ được định nghĩa là: "di chuyển bằng cách đẩy lần lượt từng bàn chân về phía trước, không có tình trạng cả hai chân rời khỏi mặt đất cùng một lúc ". [Vukobratovi´c et al. Đi bộ ngược trở lại và chạy không được xem xét trong luận văn này. Dáng đi (Gait) Mỗi Con người đều có một bước đi cụ thể duy nhất, vì thế dáng đi có nghĩa là: "Cách thức đi bộ hoặc chạy ".
Hơn nữa, mọi đi bộ được thực hiện với một dáng đi nhất định. Bước đi (Step) Theo một hướng di chuyển, trong suốt quá trình tiếp xúc với mặt đất, bàn chân từ vị trí phía trước cùng với cạnh bàn chân đẩy về phía sau. Sau đó nó rời khỏi mặt đất và di chuyển tới vị trí phía trước để lặp lại sự tiếp xúc với mặt đất như sự tiếp xúc ban đầu. [Vukobratovi´c et al.
10 Dáng đi có chu kỳ (Periodic Gait) Nếu dáng đi được thực hiện bằng cách lặp đi lặp lại từng bước một cách giống hệt nhau được gọi là dáng đi có chu kỳ. Như vậy chu kỳ của dáng đi là khoảng thời gian để con người thực hiện một bước chuyển động. Trụ hai chân (Double Support)(DS) Thuật ngữ này được sử dụng cho các tình huống khi hai chân robot đồng thời tiếp xúc với sàn. Trạng thái này xảy ra khi robot đứng bằng cả hai chân, nhưng không nhất thiết phải là cả hai bàn chân tiếp xúc đầy đủ (hoàn toàn) với sàn nhà (xem hình 1.
Trụ một chân (Single Support) (SS) Thuật ngữ này được sử dụng cho các tình huống robot chỉ có một chân tiếp xúc với sàn. Trạng thái này xảy ra khi robot hai chân chỉ có một chân tiếp xúc với sàn. Đa giác đế (Support Polygon) (SP) Đa giác đế là đa giác được hình thành bởi hình bao lồi của các điểm tiếp xúc với sàn.Thuật ngữ này được chấp nhận rộng rãi cho bất kỳ khu vực hỗ trợ nào và được thể hiện trong hình 1. Dạng của đa giác đế (màu xám).
a) Trụ hai chân b) Trụ hai chân (khi xoay) c) Trụ một chân 11 Chân khởi động, bàn chân khởi động (Swing leg, swing foot) Chân mà thực hiện một bước (di chuyển về phía trước trong không gian) được biểu thị bằng chân khởi động. Bàn chân được gắn vào chân này được gọi là bàn chân khởi động. Chân đứng, bàn chân đứng (Stance leg, stance foot) Trong khi chân khởi động di chuyển trong không gian, có một chân của robot làm nhiệm vụ giữ cân bằng, chân này tiếp xúc hoàn toàn với sàn và chịu tất cả trọng lượng của robot nó được gọi là chân đứng. Các pha của dáng di (Gait Phases) Khi robot chuyển động thì chu kỳ dáng đi của nó có thể được chia thành 4 pha (hình 1.4) + Pha trụ hai chân (Double Support Phase) (DS) Đây là pha mà cả hai chân robot tiếp xúc hoàn toàn với sàn nhà, được miêu tả trong hình 1.
+ Pha khởi động (PreSwing Phase)(pre SP) Trong pha này gót chân của bàn chân phía Hình 1. Các pha trong chu kỳ của dáng đi sau được nâng từ sàn nhà nhưng hai chân vẫn còn tiếp xúc trên sàn và thực tế các ngón chân của bàn chân này vẫn còn tiếp xúc với sàn được miêu tả trong hình 1. + Pha trụ một chân (Single Support Phase) (SS) Là pha mà chỉ có một chân tiếp xúc đầy đủ với sàn nhà và bàn chân chuyển động về phía trước, được mô tả trong hình 1. + Pha hạ mũi bàn chân (PostSwing Phase) (PSP) Trong pha này các ngón chân của chân trước hướng về phía trước và hạ xuống sàn.
Robot hai chân là trụ kép vì gót chân của bàn chân này tiếp xúc với sàn. Phân tích quá trình đi bộ của con người [20] 1.1 Sự di chuyển của con người Quá trình đi bộ của con người rất phức tạp mang tính chu kỳ, một chu kỳ đi bộ hoàn chỉnh có thể được phân làm hai giai đoạn: - Giai đoạn trụ một chân (SSP). - Giai đoạn trụ hai chân (DSP) Quá trình đi bộ có thể coi là một quá trình’’ liên tục và kiểm soát sự ‘ đổ’ của hệ thống”. Mỗi giai đọan chiếm một khoảng thời gian nhất định trong toàn bộ chu kỳ.
Khi di chuyển con người nghiêng về phía trước, khoảng cách giữa hai bàn chân mở rộng ra về phía trước và sau. Một chân đẩy ra sau và bắt đầu xoay trong khi chân còn lại chịu toàn bộ trọng lượng của cơ thể, giữ cơ thể không bị đổ. Tiếp đó, chân xoay chạm đất, trọng lượng của cơ thể bắt đầu chuyển dần sang chân này và đầu gối trùng xuống để hấp thụ va chạm. Trong quá trình chân xoay tiếp đất thì đồng thời chân trụ đẩy ra phía Hình 1.
Chu kỳ đi bộ 13 sau và bắt đầu xoay (giai đoạn chuyển pha), lúc này chân xoay cũ biến thành chân trụ và ngược lại. Cứ như thế quá trình lặp lại đều đặn theo chu kỳ (hình 1.5) Dưới đây là biểu đồ thời gian và tỷ lệ giữa các giai đoạn trong chu kỳ đi bộ (hình 1. Chu kỳ và tỷ lệ các giai đoạn trong chu kỳ của dáng đi Nhìn vào sơ đồ trên ta thấy rằng: chu kỳ của dáng đi có thể chia thành các sự kiện liên tục, bất kỳ sự kiện nào cũng có thể được lựa chọn là điểm khởi đầu (trường hợp lý tưởng khi mặt nền là bằng phẳng). Trạng thái tiếp xúc lúc bắt đầu xem xét gọi là sự kiện ban đầu.
Chân đứng, trước xoay và xoay là các sự kiện của chu kỳ. Chân đứng là sự kiện bàn chân tiếp xúc với mặt đất (khoảng 60% của chu kỳ). Xoay là sự kiện khi bàn chân ở trong không trung mà không tiếp xúc với nền (khoảng 40% của chu kỳ). Sự kiện khi mà cả hai bàn chân cùng tiếp xúc với mặt đất (có thể là sự tiếp xúc không hoàn toàn) được gọi là pha hai chân trụ.
Pha hai chân trụ xảy ra hai lần trong một chu kỳ đó là thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc chu kỳ. Khi con người chạy thì pha hai 14 chân trụ không xuất hiện. Pha hai chân trụ chiếm khoảng 30% chu kỳ (hình 1. Khoảng thời gian khi chỉ có một chân tiếp xúc với đất gọi là khoảng thời gian một chân trụ và pha này gọi là pha một chân trụ.
Trong chu kỳ đi bộ thì khoảng thời gian một chân trụ bằng khoảng thời gian các chân xoay. Quỹ đạo chuyển động của chân con người khi đi bộ Mô hình cơ hệ con người được sử dụng là mô hình cơ hệ bao gồm các khâu và các khớp (hình 1. Quỹ đạo của chân con người được nghiên cứu để phân tích chuyển động thích hợp của các khâu và khớp trong một bước. Chân xoay và di chuyển của hông bắt buộc phải được tính để đảm bảo ổn định chuyển động khi thay đổi tốc độ và hướng di chuyển.
Nghiên cứu quá trình di chuyển của con người trong các mặt phẳng được Mario Ricardo Arbul´u Saavedra [20] đưa ra trong mô phỏng dưới đây. Trong đó đùi và ống chân được mô hình là các thanh (những đoạn thẳng), bàn chân có dạng một khâu cứng. Liên kết giữa đùi, ống chân và bàn chân là các khớp cầu. Sự lặp lại của đồ thị trong những khoảng thời gian bằng nhau cho ta một mô tả về động lực học của sự di chuyển.
Sơ đồ có đầy đủ hệ trục để tạo ra đồ thị hoàn chỉnh miêu tả đầy đủ các pha và trạng thái di chuyển. Nó có thể sử dụng trực tiếp cho việc phân tích hướng, phản lực, mômen đặt vào khớp, sự thay đổi năng lượng vv… Căn cứ vào sơ đồ đó người quan sát có thể có những thông tin hữu ích. Các tọa độ khớp trong quá trình đi bộ có thể được đo bằng các thiết bị thích hợp hoặc có được thông qua dữ liệu lấy từ các tọa độ suy rộng là các góc quay của khớp nối với chân xoay và quỹ đạo hông từ mô hình động học thuận. Đối với robot dáng người thì các tọa độ khớp là đầu vào cho sự đi bộ.
Các kết quả mô phỏng về di chuyển của chân con người khi đi bộ nhìn từ mặt phẳng đối xứng dọc được thể hiện trong hình 1. Các dáng đi ổn định (Stable Gaits ) 1.