Chương 1 TONG QUAN VE VAN DE NGHIEN CUU 1. Khái quát về rừng tràm và tình hình cháy rừng tràm ở Việt Nam 1. Diện tích và sự phân bỗ rừng tràm Rừng tràm phân bố chủ yếu ở vùng Tây Nam Bộ, chúng phát triển chủ yếu trên đất chua phèn, rừng tràm tập trung lớn nhất ở vùng U Minh trong đó U Minh Thượng thuộc tỉnh Kiên Giang có diện tích khoảng 18.053 ha [26], U Minh Hạ thuộc tỉnh Cà Mau với khoảng 8.527 ha [26], vườn quốc gia Tram Chim thuộc tỉnh Đồng Tháp khoảng 7.313 ha [26] và một số diện tích phân bố chủ yếu ở các tỉnh khác trong khu vực như Long An, Tiền Giang, Hậu Giang, An Giang. Các tỉnh như Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế cũng có tràm bưng, tràm bụi phân bố trong tự nhiên.
Như vậy rừng tràm phát triển chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long do vậy địa hình của khu rừng tràm tương đối bằng, độ dốc từ I đến 2 độ có xu hướng nghiêng ra biển [26]. Từ năm 1990 đến nay nhiều địa phương, đơn vị đã tích cực trồng mới hàng ngàn ha rừng tràm, hiện có trên 160.000 ha tập trung tại bảy tỉnh đồng bằng sông Cửu Long nhiều nhất là các tỉnh Long An (trồng mới khoảng 60.000 ha), Kiên Giang (45.000 ha), Cà Mau (37.000 ha), Đồng Tháp (trên 10.000 ha) và Tiền Giang (gần 10. Đặc điểm sinh thái của rừng Tràm Rừng tràm có thành phần động thực vật phong phú, chúng thích nghi với điều kiện thủy văn đặc biệt, một năm sáu tháng ngập nước (mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11), sáu tháng khô hạn (mùa khô từ tháng 11 năm trước đến hết tháng 4 năm sau) nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao. Hệ thực vật gồm tràm chiếm ưu thế, xen kẽ ở tầng dưới thường gặp nhiều loại thực vật mọc rải rác như mép, bình bát, dừa, mật cật.
ven kênh, rạch có dừa nước, bung lác, là kè. Tầng cây bụi với các loài mua, mây nước, bòng bong. Tầng cỏ thường mọc dày đặc trên lớp than bùn, trong đó chiếm ưu thế là hai loài quyết và day choại xen kế với sậy cao từ 0.5m, chúng là nguồn vật liệu cháy không lồ. Hệ động vật rừng tràm bao gồm nhiều loải thú như: hươu, nai, hoang, lợn rừng, kỳ đà, tê tê, sóc, khỉ; các loài ran hé mang, cap nong, cap nia, ran luc, ca đồng „ ếch, lươn.
cùng với nhiều sân chim như sếu đầu đỏ, bồ nông, diệc, cò. Ngoài ra, ở rừng tràm còn có nguồn mật ong tự nhiên với sản lượng tương đối cao, có nhiều tổ ong thu hoạch từ 3 đến 10 lít mat/té. Hoạt động dùng lửa hun khói thu hoạch mật ong rừng hàng năm đã gây ra nhiều vụ cháy rừng tràm, đặc biệt ở U Minh. Rừng tràm còn giữ một vị trí cực kỳ quan trọng trong việc phòng hộ, cải tạo và nâng cao độ phì nhiêu của đất, ôn định tầng đất mặt để sản xuất nông nghiệp.
Tầng thảm mục ở rừng tràm là kho giữ nước, điều tiết nước ngọt cho sản xuất và đời sống của người dân trong khu vực. Rừng tràm nếu được bao bọc bởi hệ thống kênh mương, đê, đập vững chắc thì khi mùa mưa kết thúc, nước ngọt sẽ không bị rút nhanh ra biên. Nguồn nước được dự trữ trong tầng thảm mục và chứa trong các hang hốc, gốc cây rừng. Đây là nguồn nước ngọt vô cùng quý giá đối với con người ở vùng đất chua phèn Tây Nam Bộ, hạ lưu sông Mê Kông.
Tuy nhiên, rừng tràm tự nhiên có khối lượng vật liệu cháy lớn và phức tạp bao gồm: dây leo chủ yếu là choại, loại dây này len từ dưới đất lên ngọn cây, ngoài dây leo còn có sậy, đương xỉ, tất cả thảm thực bì có chiều day từ 0.8m, đây là lớp vật liệu rất dễ cháy, khi cháy rất khó khăn dé dap lửa. Ngoài ra, do rừng tràm ngập nước vào mùa mưa nên có một lớp thám mục nằm sát mặt đất, dưới lớp thảm mục này là lớp than bùn dày từ 0.9m, từ đặc điểm của vật liệu cháy nên khi cháy rừng tràm chúng xuất hiện ba dạng cháy đồng thời đó là cháy tán cây, cháy mặt đất (cháy lá khô, cỏ khô) và cháy lớp than bùn (cháy ngầm). Vật liệu cháy trong rừng tràm Với những đặc điểm sinh thái đặc trưng của rừng tràm khiến cho vật liệu cháy trong rừng tràm rất phức tạp, khối lượng lớn đặc biệt là rừng tràm tự nhiên, mùa khô ở khu vực rừng tràm kéo dài nên độ âm của vật liệu cháy rừng thấp, nguy cơ cháy rất cao, khi cháy thì việc chữa cháy hết sức phức tạp do phương tiện chữa cháy khó tiếp cận, khi đám cháy bùng phát sẽ rất khó dập tắt triệt để đám cháy. Đặc điểm về kênh mương khu vực rừng tràm Đối với rừng tràm trồng: tất cả các khu rừng tràm trồng đều có hệ thống kênh mương bao xung quanh, khoảng cách giữa hai kênh dao động từ 1 đến 3 km, chiều rộng các kênh từ 2 đến 3 m, chiều sâu từ I đến 2 m, về mùa khô mực nước thấp nhất của các kênh là 0.8 m, trong rừng các kênh mương thông nhau tạo thành mạng lưới giao thông thủy rất thuận lợi cho ghe xuồng hoạt động.
Đối với rừng tràm tự nhiên: chủ yếu là khu bảo tồn và vườn quốc gia đã được đào hệ thống kênh mương tương đối hoàn chỉnh, trong khu rừng có kênh chính và kênh phụ tạo thành mạng lưới cho xuồng và ghe hoạt động, khoảng cách giữa các kênh cách nhau từ 2 đến 6 km, chiều rộng của kênh từ 3 đến 5 m, chiều sâu của kênh từ 2 đến 3 m, mực nước thấp nhất trong mùa khô đối với kênh phụ là 0.5 m, đối với kênh chính là 1 m, các kênh được nối thông nhau tạo thành mạng lưới giao thông phục vụ cho công tác quản lý, tuần tra bảo vệ và chữa cháy rừng. Kênh mương trong khu vực rừng tràm có đặc điểm đặc biệt là trên mặt kênh có nhiều bèo tây (lục bình) sinh trưởng và phát triển, loại bèo này sinh trưởng và phát triển với mật độ dầy đặc trên mặt kênh, chiều cao loại bèo này khoảng 20 đến 40 cm, đây là chướng ngại vật ảnh hưởng đến khả năng di chuyên của tàu thuyền. Vườn quốc gia U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang đã đầu tư một hệ thống vớt bèo để tạo mặt thoáng trên kênh giúp cho nghe xuồng di chuyên thuận lợi, nhưng thực hiện không hiệu quả vì sinh trưởng và phát triển của loại bèo tây rất nhanh. Hiện nay, rừng ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 5.000 km [26] kênh rạch phục vụ cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng và vận chuyên hàng hóa, trong đó khoảng 4.000 km [26] kênh là có bèo tây phát triển cản trở di chuyên của tàu thuyền.
Đặc biệt là vườn quốc gia các kênh đều có bèo tây phát triển kín mặt kênh, đây là chướng ngại vật ảnh hưởng lớn đến vận tốc của xuỗồng. Khi xuồng di chuyển mặt đáy của xuồng ma sát với bèo tây, nên tạo ra lực ma sát lớn, từ đó tăng hệ số lực cản, dẫn đến tốc dộ di chuyển của xuỗồng thấp không đáp ứng yêu cầu nhanh chóng tiếp cận đám cháy. Chướng ngại vật trên kênh ở rừng tràm U Minh Thuong 1. Tình hình cháy rừng tràm ở Việt Nam Do đặc điểm về khí hậu ở khu vực rừng tràm là rất khắc nghiệt, sáu tháng mùa khô không có mưa, độ âm không khí thấp khoảng 60%, nhiệt độ không khí khoảng từ 30°C đến 35°C, với điều kiện khí hậu như vậy trong thời gian dài làm cho vật liệu cháy trong rừng rất khô.
Đặc điểm sinh thái rừng tràm có nhiều cỏ rác, thảm mục và lá khô nhiều nên nguy cơ cháy rừng rất cao. Vào mùa khô hàng năm tất cả các điện tích có rừng đều có thể xảy ra cháy. Năm 2002 đã xảy ra vụ cháy rừng tràm ở vườn quốc gia U Minh Thượng và U Minh Hạ kéo dài suốt 38 ngày, thiêu trụi khoảng 9.000 ha rừng tràm nguyên sinh. Vụ cháy rừng lịch sử này khiến Chính phủ đã phải huy động Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và lực lượng chữa cháy của nhiều tỉnh, thành phố phía Nam tham gia chữa cháy, nhưng sau 38 ngày thì đám cháy mới được dập tắt.
Thiệt hại ước tính cho vụ cháy rừng tràm U Minh năm 2002 lên đến hàng nghìn tỷ đồng. Ngoài vụ cháy rừng lớn nêu trên thì hàng năm khu vực rừng tràm vẫn xảy ra hàng chục vụ cháy làm thiệt hại hàng trăm ha rừng, năm 2010 cháy rừng ở vườn quốc gia Tràm Chim đã thiêu trụi kháng 600 ha rừng, cháy rừng ở Lâm trường Trần Văn Thời tỉnh Cà Mau đã làm thiệt hại khoảng 500ha rừng. Hình ảnh cháy rừng tràm U Minh Thượng 2002 1. Các thiết bị chữa cháy rừng tràm Hiện nay thiết bị chữa cháy rừng tràm là máy bơm nước đặt trên bờ, khi có cháy rừng xảy ra, máy bơm nước được khiêng xuống tắc ráng (còn gọi là vỏ lãi, một loại xuồng nhỏ ở địa phương), sử dụng tắc ráng di chuyên máy bơm đến nơi có cháy rừng xảy ra, sau đó khiêng máy bơm lên bờ đặt cố định để triển khai hệ thống chữa cháy và bơm nước chữa cháy.
Máy bơm nước chữa cháy rừng tại vườn quốc gia U Minh Hạ Tôn tại lớn nhất của thiết bị này là tính cơ động thấp, thời gian triển khai từ lúc phát hiện đám cháy đến lúc phun nước chữa cháy mất nhiều thời gian, dẫn đến đám cháy bùng phát lớn. Từ những tồn tại hạn chế của máy bơm nước, năm 2008 Bộ Khoa học và Công nghệ đã giao cho Trường Đại hoc Lâm nghiệp chủ tri dé tai trọng điểm cấp nhà nước mã số KC07/13.06-10 dé thiết kế chế tạo thiết bị chuyên dụng chữa cháy rừng tràm, kết quả nghiên cứu của đề tài đã thiết kế chế tạo ra xuồng chữa cháy rừng tràm. Xuỗồng chữa cháy rừng tràm do đề tài thiết kế chế tạo hiện đang được sử dụng tại vườn quốc gia U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang. Ưu điểm nổi bật của xuồng chữa cháy rừng tràm là tính cơ động cao, nhanh chóng tiếp cận đám cháy, thời gian triển khai phun nước chữa cháy ngắn, xuồng vừa di chuyển vừa phun nước chữa cháy rừng, tính ồn định chống lật của xuồng cao.