Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam" được nghiên cứu sinh Tô Thị Đông Hà thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Bùi Xuân Hải và PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Nhung tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (hoàn thành vào tháng 9 năm 2022). Luận án thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế, tiếp cận theo hướng nghiên cứu định tính dựa trên phương pháp luận khoa học pháp lý và lý thuyết khoa học xã hội.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Doanh nghiệp xã hội (DNXH) là mô hình doanh nghiệp sử dụng các giải pháp thị trường để giải quyết các vấn đề xã hội, đặt lợi ích xã hội và cộng đồng vào trung tâm của hoạt động kinh doanh. Khác với doanh nghiệp truyền thống coi kết quả tài chính là mục tiêu tối thượng và chỉ thực hiện trách nhiệm xã hội như một chiến lược kinh doanh, DNXH sử dụng kết quả tài chính làm phương tiện để đạt được sứ mệnh xã hội. Đồng thời, DNXH khác với các tổ chức phi lợi nhuận truyền thống ở chỗ không thuần túy phụ thuộc vào tài trợ, viện trợ mà vận hành chiến lược kinh doanh để tự tạo nguồn thu. Đóng góp của DNXH tập trung vào ba lĩnh vực chủ yếu: cung cấp sản phẩm, dịch vụ sáng tạo cho cộng đồng đặc thù (người khuyết tật, người có HIV/AIDS); tạo cơ hội việc làm và hòa nhập cho nhóm người yếu thế; đưa ra giải pháp mới cho các vấn đề xã hội chưa được đầu tư rộng rãi (biến đổi khí hậu, năng lượng thay thế, tái chế).

Tại Việt Nam, Luật Doanh nghiệp năm 2014 lần đầu tiên thể chế hóa DNXH tại Điều 10, được hướng dẫn bởi Nghị định số 96/2015/NĐ-CP và Thông tư số 04/2016/TT-BKHĐT; Khoản 2 Điều 76 Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận DNXH là "pháp nhân phi thương mại". Các quy định này tiếp tục được kế thừa trong Luật Doanh nghiệp năm 2020, Nghị định số 01/2021/NĐ-CP, Nghị định số 47/2021/NĐ-CP và Thông tư số 01/2021/TT-BKHĐT. Tuy nhiên, quy định pháp luật bộc lộ nhiều bất cập: tiêu chí hình thức pháp lý chỉ giới hạn trong các loại hình doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp, hẹp hơn nhiều so với thực tế các tổ chức "nơi trú ngụ" của DNXH (ước tính khoảng 165.600 tổ chức trước năm 2014 gồm tổ chức phi chính phủ, hiệp hội, hợp tác xã, câu lạc bộ); cơ quan chức năng lúng túng khi thực hiện thủ tục đăng ký mới hoặc chuyển đổi; cơ chế hỗ trợ và giám sát thiếu đồng bộ, chưa tạo được sự tin cậy. Do đó, việc nghiên cứu bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn để hoàn thiện pháp luật về DNXH là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu chính của luận án là xác định những bất cập khiến pháp luật về DNXH ở Việt Nam chưa phát huy tốt chức năng điều chỉnh, từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm khắc phục những tồn tại của pháp luật Việt Nam hướng đến mục tiêu thúc đẩy DNXH phát triển.

Các mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Làm rõ bản chất của DNXH thông qua việc nghiên cứu các cách tiếp cận khác nhau về định nghĩa và tiêu chí; xác định các đặc trưng cơ bản và mục tiêu xã hội của DNXH.
  2. Nhận diện những khó khăn mà DNXH đang đối mặt; đánh giá các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam liên quan đến hỗ trợ DNXH.
  3. Xác định các khía cạnh và yêu cầu pháp lý cụ thể mà pháp luật cần can thiệp để giám sát DNXH nhằm đạt mục tiêu quản lý.
  4. Đề xuất các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về định nghĩa, tiêu chí, hỗ trợ và giám sát DNXH.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

  • Câu hỏi nghiên cứu trọng tâm: Pháp luật Việt Nam cần hỗ trợ và giám sát DNXH như thế nào để thúc đẩy DNXH phát triển?
  • Các câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu cụ thể:
    • Câu hỏi 1: Doanh nghiệp xã hội là gì? Pháp luật cần xác định các tiêu chí của DNXH như thế nào để nhận diện DNXH ở Việt Nam?
      • Giả thuyết 1: Các định nghĩa trên thế giới thống nhất bản chất của DNXH là dùng giải pháp kinh doanh để thực hiện mục tiêu xã hội. Một định nghĩa hoàn chỉnh phải bao gồm cả ba khía cạnh: kinh tế, xã hội và quản trị. Pháp luật Việt Nam hiện mới chỉ thể hiện chiều kinh tế và xã hội, chưa đồng nhất với mô hình DNXH trong thực tiễn.
    • Câu hỏi 2: Pháp luật Việt Nam cần quy định những biện pháp hỗ trợ DNXH như thế nào?
      • Giả thuyết 2: DNXH cần hỗ trợ về hình thức pháp lý, tiếp cận thị trường, tài chính và đo lường tác động. Pháp luật Việt Nam cần mở rộng ghi nhận các hình thức pháp lý thực tế mà DNXH đang trú ngụ, đồng thời thiết kế mô hình pháp lý dành riêng cho DNXH bên cạnh các mô hình doanh nghiệp truyền thống.
    • Câu hỏi 3: Pháp luật Việt Nam cần quy định những biện pháp giám sát DNXH như thế nào?
      • Giả thuyết 3: Pháp luật các nước tập trung giám sát ở ba khía cạnh: kinh tế (hạn chế phân phối lợi nhuận, khóa tài sản), xã hội (thực hiện mục tiêu xã hội) và quản trị (quyền của các bên liên quan, trách nhiệm nhà quản lý, minh bạch thông tin). Pháp luật Việt Nam cần hoàn thiện đồng bộ các nội dung này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu:
    • DNXH và hoạt động của DNXH trong thực tiễn.
    • Các quan điểm, học thuyết kinh tế và xã hội: Lý thuyết giá trị các bên liên quan, Lý thuyết nguồn gốc xã hội dân sự, Lý thuyết phúc lợi xã hội.
    • Các quy định của pháp luật Việt Nam và một số quốc gia về định nghĩa, tiêu chí, chế độ hỗ trợ và biện pháp giám sát DNXH.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu từ thời điểm Luật Doanh nghiệp năm 2014 có hiệu lực đến năm 2022. Các quy định và tổ chức trước năm 2014 được sử dụng với mục đích so sánh, đối chiếu.
    • Phạm vi nội dung: Luận án không nghiên cứu toàn bộ pháp luật điều chỉnh doanh nghiệp mà tập trung vào các quy định pháp lý đặc thù của DNXH so với doanh nghiệp thông thường: định nghĩa, tiêu chí, đặc điểm; hỗ trợ DNXH (khung chính sách, tiếp cận thị trường/tài chính, đo lường tác động); giám sát DNXH (kinh tế, xã hội, quản trị).
    • Phạm vi không gian: Nghiên cứu pháp luật Việt Nam và khảo cứu kinh nghiệm quốc tế đại diện cho hai hệ thống pháp luật chính: Civil Law (Châu Âu, Ý), Common Law (Vương quốc Anh, Hoa Kỳ) và một quốc gia Châu Á tiêu biểu (Hàn Quốc).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Tình hình nghiên cứu về DNXH được tác giả tổng hợp và phân chia thành các nhóm tài liệu trong nước và quốc tế:

Nhóm tài liệu Tác giả, công trình tiêu biểu Nội dung chính được điểm lại
Nghiên cứu trong nước về lý thuyết và thực trạng DNXH - CIEM, Hội đồng Anh, CSIP (2012)
- Trương Thị Nam Thắng và cộng sự - ĐH Kinh tế quốc dân, UNDP (2018)
- CIEM, Hội đồng Anh, Social Enterprise UK (2019)
- ĐH Kinh tế quốc dân, Bộ KH&CN (2020)
Khảo sát thực trạng, nhận diện các dạng tổ chức "nơi trú ngụ" của DNXH (trung tâm, công ty, hiệp hội, hợp tác xã), đánh giá bước đầu hiệu lực thi hành của Luật Doanh nghiệp năm 2014 đối với khu vực tạo tác động xã hội (SIB).
Nghiên cứu trong nước về hỗ trợ và giám sát DNXH - Phan Thị Thanh Thủy (2015, 2018)
- Vũ Phương Đông (2012)
- Nguyễn Thị Dung (2017)
Đề xuất mở rộng công nhận hình thức hộ kinh doanh, HTX có mục tiêu xã hội thành DNXH; so sánh kinh nghiệm Anh và Đài Loan; phân tích bất cập trong thực thi pháp luật, nghĩa vụ công khai mục tiêu xã hội và chế tài xử lý vi phạm.
Nghiên cứu quốc tế về định nghĩa và phân loại DNXH - Antonio Fici (2015)
- Prapin Nuchpiam (2016)
- Giulia Galera & Carlo Borzaga (2009)
- Jacques Defourny & Marthe Nyssens (2010, 2012 - Mạng lưới EMES)
- Báo cáo Ủy ban Châu Âu (2015 - SBI)
- Anna Triponel & Natalia Agapitova (2017)
Phân tích ba hướng tiếp cận định nghĩa: định nghĩa pháp lý, định nghĩa hoạt động và nhận diện qua hình thức pháp lý; xác lập khung tiêu chí 3 trục (kinh tế, xã hội, quản trị) của mạng lưới EMES; chỉ ra sự đa dạng về thuật ngữ trên phạm vi toàn cầu.
Nghiên cứu quốc tế về so sánh môi trường và mô hình hỗ trợ - Janelle Kerlin (2006)
- Matthew F. Doeringer (2010)
- Robert T. Esposito (2013)
- Daniela Staicu (2017)
- Bates Wells & Braithwaite (2015)
- Thomas Kelley (2009), Prosser (2016), Dana Brakman Reiser (2013, 2014)
- Japan Research Institute (2016)
So sánh sự phân kỳ giữa trường phái Âu - Mỹ; phân tích các mô hình hình thức pháp lý chuyên biệt tại Mỹ (L3C, BC, FPC, SPC), Anh (CIC), Ý (Hợp tác xã xã hội); các chương trình hỗ trợ tiếp cận thị trường và vốn đầu tư tác động.
Nghiên cứu quốc tế về giám sát, thuế và đo lường giá trị - Ryan & Isaac Lyne (2008)
- Carlo Borzaga & Giulia Galera (2012)
- Lloyd Hitoshi Mayer & Joseph R. Ganahl (2013)
- Fabrizio Cafaggi & Paola Iamiceli (2008)
Phân tích phương pháp hoàn vốn đầu tư xã hội (SROI); chính sách thuế đối với các thực thể "lai"; cơ chế ràng buộc hạn chế phân phối lợi nhuận, khóa tài sản (asset lock) và trách nhiệm giải trình của ban quản trị.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Qua quá trình điểm luận tài liệu, tác giả xác định các khoảng trống khoa học sau:

  1. Các công trình tại Việt Nam chưa so sánh một cách hệ thống khái niệm DNXH trong pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế; chưa làm rõ sự đồng nhất hay khác biệt giữa khái niệm pháp lý và thực tiễn để đưa ra định hướng điều chỉnh phù hợp.
  2. Các nghiên cứu trước chỉ dừng lại ở đề xuất chung chung về việc mở rộng hình thức pháp lý cho DNXH ngoài phạm vi doanh nghiệp của Luật Doanh nghiệp, nhưng chưa làm rõ cơ sở lý thuyết để lựa chọn mô hình cụ thể nào tương thích với bản chất DNXH, và chưa nghiên cứu thiết kế mô hình pháp lý đặc thù dành riêng cho DNXH.
  3. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện và đồng bộ chế độ hỗ trợ và giám sát DNXH trên cả ba phương diện: kinh tế, xã hội và quản trị tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Luận án xây dựng cơ sở lập luận dựa trên ba học thuyết nền tảng:

[Lý thuyết giá trị các bên liên quan (Mitroff 1983, Freeman 1984)]

[Lý thuyết nguồn gốc xã hội dân sự (Salamon và cộng sự 2000)]

[Lý thuyết phúc lợi xã hội (Friedrich von Wieser 1889, 1914)]
  • Lý thuyết giá trị các bên liên quan (Stakeholder Theory): Khởi xướng bởi Ian Mitroff (1983) và Edward Freeman (1983, 1984). Lý thuyết này phản bác quan điểm truyền thống cho rằng công ty chỉ phục vụ lợi ích tài chính của cổ đông. Thay vào đó, doanh nghiệp chịu tác động và có nghĩa vụ đối xử công bằng, bảo vệ lợi ích của toàn thể các bên liên quan (người lao động, khách hàng, đối tác, nhà tài trợ, cộng đồng). Học thuyết này được luận án vận dụng xuyên suốt để khẳng định DNXH phải dựa trên nền tảng giá trị các bên liên quan, làm cơ sở hoàn thiện tiêu chí quản trị, cơ chế hỗ trợ và giám sát.
  • Lý thuyết nguồn gốc xã hội dân sự (Social Origins Theory of Civil Society): Được phát triển bởi Lester M. Salamon và cộng sự (2000) dựa trên các công trình của Barrington Moore (1966) và Esping-Andersen (1990). Phân tích kết hợp giữa quy mô khu vực phi lợi nhuận và mức chi tiêu phúc lợi xã hội của chính phủ để phân chia thành 4 mô hình: tự do, thống trị, corporatist và xã hội dân chủ. Tác giả vận dụng lý thuyết này để lý giải quá trình hình thành DNXH từ các tổ chức xã hội dân sự, phân tích bối cảnh chính trị, kinh tế, văn hóa của Việt Nam nhằm đề xuất các chính sách tương thích với thực tiễn quốc gia.
  • Lý thuyết phúc lợi xã hội (Social Welfare Theory): Dựa trên tác phẩm của Friedrich von Wieser (Der natürliche Wert năm 1889 và Theorie der gesellschaftlichen Wirtschaft năm 1914). Lý thuyết nhấn mạnh nền kinh tế phải hướng tới quản trị và tạo dựng giá trị xã hội, đề cao vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết, gia tăng tổng hiệu dụng phúc lợi và hạn chế sự chi phối thuần túy của tư bản. Luận án vận dụng lý thuyết này để luận giải bản chất phúc lợi hóa hoạt động kinh doanh của DNXH, xác định vai trò hỗ trợ và trách nhiệm giám sát của Nhà nước để bảo đảm DNXH không đi chệch sứ mệnh phục vụ cộng đồng.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng các phương pháp nghiên cứu pháp lý truyền thống:

  • Phương pháp phân tích: Được sử dụng xuyên suốt Chương 2, 3 và 4 nhằm bóc tách các cấu phần của khái niệm DNXH, các tiêu chí kinh tế - xã hội - quản trị, cũng như chia nhỏ các nội dung của biện pháp hỗ trợ và giám sát để đánh giá chi tiết.
  • Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng chủ đạo tại Chương 1 để hệ thống hóa y văn, xác định khoảng trống khoa học; tại Chương 2, 3, 4 để quy nạp các khó khăn thực tiễn, khái quát hóa các xu hướng lập pháp quốc tế và lập luận cho các kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
  • Phương pháp luật học so sánh: Áp dụng đối chiếu quy định pháp luật của Việt Nam với hệ thống pháp luật của Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Ý, Hàn Quốc và khuôn khổ pháp lý chung của Châu Âu nhằm tìm kiếm sự tương đồng, khác biệt và rút ra bài học kinh nghiệm.
  • Phương pháp lịch sử: Khảo cứu quá trình hình thành các trường phái tư tưởng về DNXH tại phương Tây, sự phát triển của các phong trào hợp tác xã và diễn tiến lập pháp về DNXH tại Việt Nam từ trước năm 2014 đến Luật Doanh nghiệp năm 2020.
  • Phương pháp nghiên cứu lý thuyết luật học: Thu thập, xử lý hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, số liệu điều tra xã hội học và các án lệ, tài liệu thực nghiệm để xây dựng cơ sở pháp lý và khoa học cho các đề xuất sửa đổi chính sách.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hợp tác xã năm 2012; các Nghị định số 96/2015/NĐ-CP, Nghị định số 01/2021/NĐ-CP, Nghị định số 47/2021/NĐ-CP; Thông tư số 04/2016/TT-BKHĐT, Thông tư số 01/2021/TT-BKHĐT.
  • Các văn bản pháp luật và mô hình nước ngoài: Đạo luật Hợp tác xã xã hội năm 1991 của Ý; mô hình Công ty Lợi ích Cộng đồng (CIC) tại Anh; các mô hình Công ty Lợi nhuận thấp (L3C), Công ty Lợi ích (BC), Công ty Mục đích linh hoạt (FPC), Công ty Mục đích xã hội (SPC) tại các bang của Hoa Kỳ; Đạo luật Khuyến khích Doanh nghiệp xã hội của Hàn Quốc.
  • Các báo cáo khảo sát thực nghiệm và dữ liệu thứ cấp: Báo cáo khảo sát của CIEM, Hội đồng Anh, CSIP (2012, 2019); Báo cáo khảo sát khu vực SIB của Trường Đại học Kinh tế quốc dân và UNDP (2018); Báo cáo của Ủy ban Châu Âu (2015); tài liệu của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Viện nghiên cứu Nhật Bản (Japan Research Institute).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài và các vấn đề liên quan của luận án

Chương 1 thực hiện tổng hợp toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về DNXH. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu quốc tế chủ yếu tập trung vào lý thuyết vận hành và bối cảnh phát triển, trong khi các công trình phân tích chuyên sâu về khía cạnh pháp lý còn hạn chế. Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây phần lớn mang tính chất khảo sát xã hội học hoặc báo cáo chính sách kinh tế khái quát, chưa có công trình nào ở bậc tiến sĩ nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên sâu về khung pháp lý điều chỉnh DNXH. Chương này cũng xây dựng nền tảng phương pháp luận thông qua ba học thuyết: Lý thuyết giá trị các bên liên quan, Lý thuyết nguồn gốc xã hội dân sự và Lý thuyết phúc lợi xã hội; đồng thời xác định rõ hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu làm kim chỉ nam cho toàn bộ công trình.

Chương 2: Tổng quan về doanh nghiệp xã hội

Chương 2 tập trung làm rõ bản chất, định nghĩa, tiêu chí, đặc điểm và mục tiêu của DNXH:

  • Ba cách tiếp cận định nghĩa DNXH trên thế giới:
    1. Định nghĩa pháp lý: Được quy định chính thức trong luật, thể hiện dưới dạng tuyên bố bản chất hoặc liệt kê thành phần (áp dụng tại Ý, Hàn Quốc, Việt Nam).
    2. Định nghĩa hoạt động: Do các cơ quan quản lý ban hành phục vụ điều hành (như Ủy ban Châu Âu, Bộ Thương mại và Công nghiệp Anh) hoặc do các tổ chức phi chính phủ, mạng lưới học thuật xây dựng (như Mạng lưới EMES, Social Enterprise UK, B Labs).
    3. Cách tiếp cận không có định nghĩa: Không quy định định nghĩa chung mà cụ thể hóa các đặc điểm nhận dạng trực tiếp trong từng hình thức pháp lý chuyên biệt.
  • Khung tiêu chí của mạng lưới EMES: Phân tích bộ tiêu chí lý tưởng của EMES gồm ba trục: kinh tế - doanh nhân (hoạt động kinh tế liên tục, chấp nhận rủi ro), xã hội (mục đích phục vụ cộng đồng, hạn chế phân phối lợi nhuận) và quản trị (tính tự chủ, quản trị có sự tham gia của các bên liên quan).
  • Đánh giá định nghĩa và tiêu chí của DNXH trong pháp luật Việt Nam: Luật Doanh nghiệp hiện hành quy định ba tiêu chí: (1) là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp; (2) mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng; (3) sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận sau thuế hàng năm để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu đã đăng ký. Tác giả đánh giá quy định này mới chỉ phản ánh khía cạnh kinh tế và xã hội, hoàn toàn bỏ trống khía cạnh quản trị; đồng thời việc giới hạn hình thức ở "doanh nghiệp" đã loại bỏ các mô hình tổ chức xã hội, hợp tác xã đang thực tế hoạt động như một DNXH.
  • Năm đặc điểm cốt lõi của DNXH: Có hoạt động kinh doanh; Có mục đích vì lợi ích chung hoặc cộng đồng; Hạn chế phân chia lợi nhuận; Đáp ứng những yêu cầu về quản trị; Chịu sự quản lý của hệ thống cưỡng chế công.

Chương 3: Hỗ trợ doanh nghiệp xã hội

Chương 3 khảo cứu các rào cản và kinh nghiệm pháp luật quốc tế để đề xuất hoàn thiện chính sách hỗ trợ DNXH tại Việt Nam:

  • Các rào cản chính: DNXH gặp khó khăn lớn về nguồn vốn do hạn chế phân chia lợi nhuận làm giảm sức hút đối với nhà đầu tư thương mại; hạn chế về kỹ năng quản trị kinh doanh; khó khăn trong tiếp cận thị trường và mua sắm công; thiếu hụt hệ thống công cụ đo lường giá trị xã hội.
  • Kinh nghiệm quốc tế về hỗ trợ DNXH:
    • Hỗ trợ về khung pháp lý và hình thức: Hoa Kỳ ban hành các hình thức công ty lai (L3C, BC, FPC, SPC); Vương quốc Anh xây dựng mô hình Công ty Lợi ích Cộng đồng (CIC) với cơ quan quản lý chuyên trách (Regulator of CICs); Ý phát triển mô hình Hợp tác xã xã hội (HTXXH).
    • Hỗ trợ tiếp cận thị trường và tài chính: Các chính sách ưu đãi về thuế, phát triển thị trường đầu tư tác động, hỗ trợ tín dụng và ưu tiên trong mua sắm công.
    • Hỗ trợ hệ thống đo lường và báo cáo tác động: Ứng dụng phương pháp Hoàn vốn đầu tư xã hội (SROI) và các bộ chỉ số đo lường giá trị xã hội tạo ra.
  • Kiến nghị cho Việt Nam: Mở rộng phạm vi hình thức pháp lý được công nhận là DNXH (bao gồm hộ kinh doanh, hợp tác xã, tổ chức phi lợi nhuận có hoạt động kinh doanh); nghiên cứu xây dựng mô hình pháp lý đặc thù cho DNXH; ban hành chính sách ưu đãi thuế rõ ràng, hỗ trợ tiếp cận vốn tín dụng chính sách và xây dựng khung hướng dẫn chuẩn hóa báo cáo đo lường tác động xã hội.

Chương 4: Giám sát doanh nghiệp xã hội

Chương 4 phân tích các công cụ và cơ chế pháp lý nhằm kiểm soát hoạt động của DNXH, bảo đảm không bị lệch hướng khỏi sứ mệnh phục vụ cộng đồng:

  • Giám sát khía cạnh kinh doanh:
    • Thực hiện ràng buộc cấm hoặc hạn chế phân phối lợi nhuận (tỷ lệ tái đầu tư 51% theo luật Việt Nam hoặc các mức tỷ lệ quy định tại các quốc gia).
    • Áp dụng chế độ "khóa tài sản" (asset lock) nhằm bảo đảm tài sản tích lũy của DNXH và các khoản tài trợ không bị chuyển dịch thành tài sản cá nhân khi giải thể, chuyển đổi hoặc chuyển nhượng, mà phải được chuyển giao cho một tổ chức DNXH hoặc tổ chức từ thiện khác có cùng mục tiêu.
  • Giám sát khía cạnh xã hội:
    • Giám sát việc duy trì và thực hiện mục tiêu xã hội đã cam kết; kiểm soát quy trình sử dụng các nguồn vốn viện trợ, tài trợ phi chính phủ.
  • Giám sát khía cạnh quản trị:
    • Bảo vệ quyền lợi và sự tham gia của các bên liên quan trong quy trình ra quyết định; nâng cao trách nhiệm ủy thác và nghĩa vụ giải trình của người quản lý; quy định chế độ báo cáo thường niên bắt buộc và công khai minh bạch thông tin hoạt động xã hội.
  • Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam: Bổ sung quy định rõ ràng về chế tài đối với các hành vi lợi dụng danh xưng DNXH để trục lợi; thiết lập cơ chế khóa tài sản trong Luật Doanh nghiệp; quy định nghĩa vụ bắt buộc về công khai cam kết và báo cáo đánh giá tác động định kỳ hàng năm đối với các doanh nghiệp tiếp nhận tài trợ xã hội.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định bốn đóng góp mới chủ yếu về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:

  1. Hệ thống hóa và hoàn thiện định nghĩa, tiêu chí DNXH: Luận án là công trình hệ thống hóa và đánh giá so sánh định nghĩa, tiêu chí DNXH trong chính sách, pháp luật của Châu Âu, các quốc gia tiêu biểu và Việt Nam. Đây là công trình đầu tiên tại Việt Nam sử dụng khung khái niệm ba trục của tổ chức EMES làm điểm tựa khoa học để đề xuất hoàn thiện tiêu chí nhận diện và đưa ra định nghĩa pháp lý cơ bản về DNXH trong pháp luật Việt Nam.
  2. Đề xuất giải pháp hoàn thiện hình thức pháp lý: Khám phá toàn diện cách tiếp cận của các hệ thống pháp luật trên thế giới về "chiếc áo pháp lý" cho DNXH, phân tích ưu điểm và hạn chế của từng mô hình. Luận án chỉ ra sự bất cập của pháp luật Việt Nam khi giới hạn hình thức DNXH trong phạm vi doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp; đồng thời là công trình đầu tiên kiến nghị thiết kế mô hình pháp lý đặc thù dành riêng cho DNXH bên cạnh các mô hình truyền thống.
  3. Xây dựng khung giám sát toàn diện ba phương diện: Khác với các công trình trước đây chỉ khảo sát đơn lẻ một vài khía cạnh, luận án nghiên cứu nội dung giám sát DNXH một cách đồng bộ trên cả ba phương diện: kinh tế (hạn chế phân phối lợi nhuận, khóa tài sản), xã hội (kiểm soát mục tiêu xã hội) và quản trị (quyền của các bên liên quan, tính minh bạch và trách nhiệm của nhà quản lý), từ đó xây dựng hệ thống kiến nghị pháp lý cụ thể.
  4. Đóng góp tài liệu học thuật và đào tạo: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật phục vụ trực tiếp cho quá trình nghiên cứu, giảng dạy các học phần Luật Kinh tế, Luật Doanh nghiệp, Chủ thể kinh doanh, Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại các cơ sở đào tạo đại học và sau đại học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Do giới hạn phạm vi nghiên cứu, luận án tập trung chủ yếu vào giai đoạn từ khi Luật Doanh nghiệp năm 2014 có hiệu lực đến năm 2022; các tổ chức trước năm 2014 chỉ được xem xét dưới góc độ so sánh lịch sử.
    • Công trình giới hạn nghiên cứu ở các quy định pháp luật mang tính chất đặc thù của DNXH (định nghĩa, hỗ trợ, giám sát), không bao quát toàn bộ các chế định pháp luật chung điều chỉnh mọi loại hình doanh nghiệp (như pháp luật lao động chung, hợp đồng thương mại, phá sản).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn áp dụng các văn bản hướng dẫn Luật Doanh nghiệp năm 2020 (như Nghị định số 01/2021/NĐ-CP, Nghị định số 47/2021/NĐ-CP) đối với các DNXH mới thành lập.
    • Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế đo lường giá trị xã hội (phương pháp SROI) phù hợp với điều kiện hạch toán kế toán tại Việt Nam.
    • Mở rộng nghiên cứu quy chế pháp lý về thuế chuyên biệt cho các thực thể kinh doanh "lai" giữa mục tiêu lợi nhuận và phi lợi nhuận.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Đối với cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách (Quốc hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tư pháp): Cung cấp luận cứ khoa học để xem xét sửa đổi Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, hoàn thiện các nghị định về đăng ký kinh doanh, cơ chế ưu đãi đầu tư và xây dựng quy chế quản lý, giám sát đối với DNXH.
  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành luật: Là tài liệu tham khảo chuyên sâu trong nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề về Luật Kinh tế, Luật Doanh nghiệp, Pháp chế doanh nghiệp và Khởi nghiệp xã hội.
  • Đối với các doanh nhân xã hội, tổ chức phi chính phủ và hiệp hội: Cung cấp kiến thức pháp lý về lựa chọn mô hình tổ chức, quản trị rủi ro pháp lý, thực hiện nghĩa vụ minh bạch, cơ chế khóa tài sản và phương thức huy động nguồn lực đầu tư tác động.

Câu hỏi thường gặp

1. Bản chất cốt lõi của doanh nghiệp xã hội khác với doanh nghiệp truyền thống và tổ chức từ thiện như thế nào?

Theo luận án, DNXH đặt lợi ích xã hội vào trung tâm của hoạt động kinh doanh. Đối với doanh nghiệp truyền thống, lợi nhuận là mục tiêu chính và trách nhiệm xã hội chỉ là công cụ hỗ trợ. Ngược lại, đối với DNXH, kết quả tài chính là phương tiện để thực hiện sứ mệnh xã hội. So với các tổ chức từ thiện, DNXH không phụ thuộc thuần túy vào viện trợ, tài trợ mà sử dụng chiến lược và giải pháp kinh doanh để tự tạo doanh thu và giải quyết các vấn đề xã hội cụ thể.

2. Ba trục tiêu chí nhận diện doanh nghiệp xã hội của mạng lưới EMES gồm những gì?

Mạng lưới Nghiên cứu Châu Âu (EMES) phân chia tiêu chí DNXH theo ba trục: (1) Trục kinh tế - doanh nhân: hoạt động sản xuất kinh doanh liên tục, có mức độ rủi ro kinh tế nhất định và có tỷ lệ lao động trả lương; (2) Trục xã hội: có mục tiêu rõ ràng vì lợi ích cộng đồng, xuất phát từ sáng kiến của nhóm công dân và hạn chế phân phối lợi nhuận; (3) Trục quản trị: có tính tự chủ cao, cơ chế ra quyết định dân chủ, có sự tham gia của các bên liên quan chịu ảnh hưởng bởi hoạt động của doanh nghiệp.

3. Pháp luật Việt Nam quy định tỷ lệ phân phối lợi nhuận của DNXH như thế nào và luận án nhận xét gì?

Luật Doanh nghiệp quy định DNXH phải sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận sau thuế hàng năm để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường đã đăng ký. Luận án nhận định tỷ lệ 51% là tiêu chí định lượng quan trọng phản ánh khía cạnh kinh tế và xã hội, tuy nhiên pháp luật hiện hành còn thiếu cơ chế kiểm tra việc thực thi cam kết này trong thực tế và thiếu các chế tài cụ thể khi doanh nghiệp không tuân thủ nghĩa vụ tái đầu tư.

4. Chế độ "khóa tài sản" (asset lock) là gì và tại sao cần thiết trong giám sát DNXH?

Khóa tài sản là cơ chế pháp lý ràng buộc toàn bộ tài sản tích lũy, các khoản viện trợ, tài trợ và thặng dư của DNXH không được chia cho các thành viên hoặc cổ đông khi doanh nghiệp giải thể, chuyển đổi hình thức hoặc chuyển nhượng. Số tài sản này bắt buộc phải được chuyển giao cho một DNXH khác hoặc một tổ chức từ thiện có cùng mục tiêu xã hội nhằm ngăn chặn hành vi tư nhân hóa tài sản công cộng và trục lợi chính sách.

5. Tại sao luận án khẳng định Lý thuyết giá trị các bên liên quan phù hợp với DNXH hơn Lý thuyết giá trị cổ đông?

Lý thuyết giá trị cổ đông chỉ tập trung tối đa hóa lợi ích tài chính cho chủ sở hữu, điều này mâu thuẫn với bản chất của DNXH là phục vụ cộng đồng. Lý thuyết giá trị các bên liên quan (Mitroff 1983, Freeman 1984) đặt nghĩa vụ của tổ chức vào việc cân bằng quyền lợi của toàn bộ các bên tham gia (người lao động, khách hàng yếu thế, cộng đồng địa phương, nhà tài trợ). Đây chính là nền tảng triết lý quản trị và hoạt động của mô hình DNXH.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam" của tác giả Tô Thị Đông Hà là công trình nghiên cứu chuyên sâu về mặt pháp lý đối với mô hình kinh doanh phục vụ sứ mệnh cộng đồng. Thông qua việc phân tích nền tảng lý thuyết các bên liên quan, lý thuyết nguồn gốc xã hội dân sự và lý thuyết phúc lợi xã hội kết hợp với khảo cứu kinh nghiệm quốc tế, luận án đã làm rõ những bất cập trong quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về định nghĩa, hình thức pháp lý, chế độ hỗ trợ và cơ chế giám sát DNXH. Các kết quả nghiên cứu và hệ thống kiến nghị của luận án cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc sửa đổi, hoàn thiện khung pháp lý nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam.