CHƯƠNG 1 LÝ THUYẾT VỀ ĐỘ LỆCH KỲ HẠN VÀ MẤT CÂN ĐỐI KỲ HẠN TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 1. CÁC KHÁI NIỆM VỀ ĐỘ LỆCH KỲ HẠN VÀ MẤT CÂN ĐỐI KỲ HẠN Một trong các chức năng chính của các NHTM là chức năng chuyển đổi kỳ hạn. Trong hầu hết các trường hợp, các NHTM tài trợ các khoản đầu tư của họ vào trái phiếu hoặc các khoản cho vay bằng cách phát hành các khoản nợ có thời gian đáo hạn ngắn hơn hoặc bằng các khoản đầu tư và cho vay. Chức năng này là nguyên nhân gây ra sự mất cân đối giữa giá trị tài sản có và tài sản nợ do độ lệch kỳ hạn [29; 36; 43].
Khái niệm độ lệch kỳ hạn Độ lệch kỳ hạn được khái niệm tổng quát là độ lệch giữa giá trị dòng tiền vào (cash inflows) với dòng tiền ra (cash outflows) hay độ lệch về giá trị tài sản có (assets) và giá trị tài sản nợ (liabilities) ở các bậc thang kỳ hạn trong bảng cân đối của một ngân hàng. Trên bảng cân đối kế toán của một ngân hàng, danh mục tài sản có và tài sản nợ chủ yếu của ngân hàng gồm: (1) Tài sản có: Tiền mặt – kim loại quý tại quỹ; Cho vay khách hàng (các khoản cấp tín dụng), Chứng khoán đầu tư – kinh doanh; Tiền gửi tại các tổ chức tín dụng hoặc cho vay các tổ chức tín dụng khác; Góp vốn, đầu tư dài hạn; Tài sản cố định của ngân hàng, và (2) Tài sản nợ chủ yếu bao gồm: Tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng, các nghĩa vụ phải trả khác của ngân hàng như tiền gửi của TCTD khác hoặc vay từ các TCTD khác; các khoản vay NHNN. Tùy theo mục tiêu tính toán, có thể có các khái niệm về độ lệch kỳ hạn như sau [44; 46]: 2 1. Độ lệch kỳ hạn hợp đồng Độ lệch kỳ hạn hợp đồng (contractual maturity) là chênh lệch giữa giá trị tài sản có và tài sản nợ về thời gian đáo hạn, xác định dựa trên kỳ hạn trên hợp đồng.
Độ lệch kỳ hạn hợp đồng chỉ ra khoảng cách giữa nhu cầu thanh toán và khả năng thanh toán trong từng kỳ hạn đã được xác định trên hợp đồng. Ví dụ: một khoản vay có thời hạn hợp đồng là 1 năm được xếp vào tài sản có theo kỳ hạn là 1 năm trong khi tính toán độ lệch kỳ hạn. Độ lệch kỳ hạn còn lại Độ lệch kỳ hạn còn lại (remaining maturity) là chênh lệch giữa tài sản có và tài sản nợ ở mỗi bậc thang kỳ hạn, được xác định dựa trên thời gian còn lại so với kỳ hạn trên hợp đồng [46]. Độ lệch kỳ hạn còn lại có cách xác định nhu cầu và khả năng thanh toán chính xác hơn so với độ lệch kỳ hạn theo hợp đồng.
Độ lệch kỳ hạn tĩnh và động Độ lệch kỳ hạn tĩnh: là chênh lệch giữa giá trị tài sản có và tài sản nợ được tính dựa trên số dư giữa tài sản có và tài sản nợ tại thời điểm tính toán. Các hoạt động kinh doanh mới của ngân hàng như huy động và cho vay phát sinh trong tương lai sẽ không được cộng vào tại thời điểm tính toán. Độ lệch kỳ hạn động: là chênh lệch giữa giá trị tài sản có và tài sản nợ mà trong đó bao gồm cả giá trị các tài sản có và tài sản nợ hiện tại và giá trị các tài sản có và tài sản nợ dự báo trong vài ngày tới ở tương lai (từ 0 đến 7 ngày), để tính toán và dự báo nhu cầu thanh toán của ngân hàng. Để xác định được tình trạng dư thừa hoặc thiếu hụt thanh khoản nhằm đưa ra chính sách sử dụng vốn và có kế hoạch dự phòng nguồn vốn hợp lý, các ngân hàng cần thiết phải tính toán các chỉ tiêu độ lệch kỳ hạn động và độ lệch kỳ hạn tĩnh, tuy nhiên chỉ tiêu thông dụng nhất vẫn là độ lệch kỳ hạn tĩnh.
Các ngân hàng thường áp dụng các mô hình dự báo dựa trên các dữ liệu độ lệch kỳ hạn tĩnh để dự đoán tình trạng thanh khoản trong tương lai [44; 46]. Độ lệch kỳ hạn thực Độ lệch kỳ hạn thực (Effective maturity): là chênh lệch kỳ hạn giữa giá trị tài sản có và tài sản nợ được tính trên kỳ hạn thực tế của tài sản có và tài sản nợ chứ không phải trên kỳ hạn danh nghĩa (được ghi trên hợp đồng). Độ lệch kỳ hạn thực của tài sản có thể lớn hơn độ lệch kỳ hạn sổ sách (hay là độ lệch kỳ hạn danh nghĩa) vì giá thị trường của tài sản đó có thể được xác định khác nhau. Ví dụ: - Khoản tiền gửi đến hạn chưa rút vốn hoặc khoản tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán) vẫn nằm trong tài khoản thường có độ lệch kỳ hạn thực lớn hơn so với kỳ hạn danh nghĩa.
Theo đó, chi phí giao dịch, chi phí lãi cũng sẽ cao hơn so với khoản chi phí dự kiến trên hợp đồng và vì vậy, lợi nhuận dự kiến sẽ giảm. - Độ lệch kỳ hạn theo hợp đồng của một khoản vay thế chấp có thể dài hơn độ lệch kỳ hạn trong thực tế do khoản vay được trả nợ trước hạn. Như vậy, khi độ lệch kỳ hạn giảm dần (khoảng chênh lệch giảm dần), thì khoản hoàn trả cho vay từ dân cư tăng tương ứng. Điều này cho thấy dư nợ cho vay không tồn tại suốt thời hạn cho vay và kỳ hạn trả nợ do việc hoàn trả trước hạn và việc hoàn trả trước hạn này làm giảm độ lệch kỳ hạn thực của khoản vay có thế chấp.
Việc đo lường kỳ hạn thường sẽ mang tính chất tương đối do sự sai biệt về kỳ hạn giữa kỳ hạn thực và kỳ hạn trên hợp đồng. Khái niệm thang đo kỳ hạn và xác định kỳ hạn 1. Thang đo kỳ hạn Thang đo kỳ hạn (thang đáo hạn) là bảng liệt kê các dòng tiền vào và ra (tài sản có và tài sản nợ) tương ứng với các bậc thang kỳ hạn khác nhau. Việc xây dựng và sử dụng thang đo kỳ hạn là rất cần thiết cho việc đánh giá thực trạng chuyển đổi kỳ hạn của một ngân hàng [30].
Giá trị tài sản nợ và tài sản có được liệt kê vào các kỳ hạn của thang đáo hạn chính là cơ sở để xác định độ lệch kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ 4 trong mỗi kỳ hạn và từ đó, có thể đo lường mức dư thừa hay thiếu hụt thanh khoản tại các thời điểm khác nhau. Thông qua bậc thang kỳ hạn tương ứng trong từng trường hợp, tùy vào mục đích nghiên cứu của từng ngân hàng, sẽ xác định được dòng tiền vào – dòng tiền ra dự kiến trong tương lai của các loại tài sản nợ và tài sản có. Số lượng bậc thang kỳ hạn thường được phân nhóm từ 5 đến 12, khoảng cách thời gian của một bậc thang sẽ ngắn nếu kỳ hạn ngắn và dài hơn cho kỳ hạn dài. Bậc thang thông thường trong cấu trúc kỳ hạn của một ngân hàng thường là: đến 1 tháng; từ 1 tháng đến 3 tháng; từ trên 3 tháng đến 6 tháng; từ trên 6 tháng đến 1 năm; từ trên 1 năm đến 3 năm; sau 3 năm [46].
Xác định kỳ hạn Xác định kỳ hạn hay xác định thời gian đáo hạn. Đối với tài sản có – tài sản nợ có thể xác định được kỳ hạn: để xác định chính xác kỳ hạn của tài sản có – tài sản nợ, cần phân nhóm các tài sản có và tài sản nợ vào các bậc thang của thang đo kỳ hạn và phải xác định được dòng tiền vào và ra dự kiến cho những kỳ hạn khác nhau của các tài sản có và tài sản nợ theo ngày đến hạn và ước tính nhu cầu thanh khoản của tài sản có và tài sản nợ [18]. Để xác định được dòng ngân lưu vào và ra, các ngân hàng cần có cơ chế báo cáo dòng tiền theo các dựa trên kỳ hạn còn lại của hợp đồng của các khoản mục tài sản có – tài sản nợ. Các dữ liệu phải được báo cáo theo mẫu riêng với thời gian được ấn định cụ thể, dưới sự giám sát của người có thẩm quyền trong hệ thống quản trị của ngân hàng [30].
Đối với các tài sản có và tài sản nợ khó xác định được kỳ hạn chính xác (như tiền gửi không kỳ hạn, các khoản thấu chi, dư nợ sử dụng thẻ tín dụng…), việc xác định đúng cần thực nghiệm bằng phương pháp phân tích thống kê và đưa ra các giả định dựa trên kinh nghiệm quản trị và chuyên môn sâu của từng Ngân hàng. Cách xác định: - Các khoản mục tài sản Có như thấu chi, dư nợ vay thẻ tín dụng, hạn mức tín dụng (Renewed line of credit), cam kết mở rộng tín dụng (Committed lines of credit): phụ thuộc vào động cơ chủ quan của khách hàng nên không xác định kỳ 5 hạn cụ thể. Để xác định thời hạn đáo hạn có hiệu lực của tài sản đó cần có dữ liệu quá khứ, kinh nghiệm và thông tin về tài khoản của khách hàng; - Các khoản mục tài sản Nợ như tiền gửi không kỳ hạn, tiền trong tài thanh toán séc…, (thường không có kỳ hạn trên hợp đồng): ngân hàng tiến hành xác định tỷ lệ tiền gửi thường xuyên hàng ngày (core deposits) và không ổn định (unstable balance). Số dư tiền gửi thường xuyên được xem như nguồn tài trợ dài hạn và được xếp vào bậc kỳ hạn dài; số dư không ổn định được xem là nợ ngắn hạn và có thể được đưa vào bậc kỳ hạn ngắn.
Xác định kỳ hạn và tính toán độ lệch kỳ hạn cần được cập nhật liên tục, thường xuyên vì dòng tài sản có và tài sản nợ thay đổi liên tục do đặc điểm hoạt động của ngân hàng và cần lưu ý rằng số dư của tài sản có và tài sản nợ được tính dựa trên cân đối về kỳ hạn còn lại chứ không tính dựa trên kỳ hạn hợp đồng [44]. Khái niệm mất cân đối kỳ hạn Chuyển đổi kỳ hạn được xem là một trong những chức năng cơ bản của NHTM. Các NHTM đều tài trợ cho các tài sản có dài hạn (cho vay, đầu tư) bằng các tài sản nợ ngắn hạn (tiền gửi kỳ hạn ngắn, chứng khoán ngắn hạn). Trong hầu hết các trường hợp, các ngân hàng thương mại đầu tư vào trái phiếu hoặc tài trợ tín dụng bằng các tài sản nợ có thời gian đáo hạn ngắn hơn (như phát hành trái phiếu ngắn hạn, tiền gửi ngắn hạn và các khoản vay trên thị trường liên ngân hàng).