NGHIÊN CỨU ĐỘ BỀN CỦA BÊ TÔNG CHẤT LƯỢNG CAO TRONG VÙNG BIỂN XA BỜ TỈNH KHÁNH HÒA

Nghiên cứu độ bền bê tông chất lượng cao (HPC) tại vùng biển xa bờ Khánh Hòa. Phân tích ảnh hưởng môi trường biển đến tuổi thọ công trình BTCT. Giải pháp thiết kế bền vững.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2024

180
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Độ Bền Bê Tông HPC Vùng Biển Luận Án Tiến Sĩ

Việt Nam, với đường bờ biển dài hơn 3200 km, chứng kiến sự gia tăng đáng kể các công trình xây dựng trong môi trường biển từ sau năm 1960. Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy tuổi thọ sử dụng của công trình bê tông cốt thép (BTCT) trong môi trường biển đang giảm đáng báo động. Thật vậy, hơn 50% kết cấu BTCT bị ăn mòn, hư hỏng nặng hoặc phá hủy chỉ sau 10-30 năm sử dụng. Nguyên nhân chính là do sự xâm nhập của ion Clorua gây ăn mòn cốt thép, làm giảm độ bền của kết cấu. Tốc độ ăn mòn diễn ra nhanh chóng, khiến nhiều công trình không đạt tuổi thọ thiết kế. Chi phí sửa chữa chiếm một phần đáng kể trong tổng đầu tư. Nghiên cứu về độ bền bê tông trong môi trường biển trở nên cấp thiết để bảo vệ hạ tầng và tiết kiệm chi phí. Các giải pháp hiện nay tập trung vào sử dụng vật liệu chống ăn mòn và công nghệ tiên tiến như Bê tông chất lượng cao (HPC). [24]

1.1. Tầm Quan Trọng Nghiên Cứu Bê Tông Chất Lượng Cao HPC

Nghiên cứu về bê tông chất lượng cao (HPC) đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết vấn đề độ bền của công trình xây dựng biển. So với bê tông thông thường, HPC có khả năng chống thấm và chống ăn mòn tốt hơn, kéo dài tuổi thọ công trình và giảm chi phí bảo trì. Ứng dụng công nghệ bê tông mới và các vật liệu xây dựng biển đặc biệt cần được đẩy mạnh để đảm bảo an toàn và bền vững cho các công trình ven biển.

1.2. Tổng Quan Các Nghiên Cứu Độ Bền Bê Tông Tại Việt Nam

Vấn đề độ bền bê tông trong môi trường biển đã được quan tâm nghiên cứu tại Việt Nam từ đầu thế kỷ XXI. Các nghiên cứu tập trung vào việc sử dụng các vật liệu chống ăn mòn như vật liệu bê tông cốt sợi (GFRP) cho công trình nhà giàn DK, ứng dụng bê tông tính năng siêu cao cốt sợi thép (UHPFRC) cho kết cấu bê tông lắp ghép trên đảo xa bờ. Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc phát triển cường độ bê tông, chưa đi sâu vào các yếu tố ảnh hưởng đến độ bền trong môi trường biển cụ thể như Khánh Hòa.

II. Thách Thức Ăn Mòn Bê Tông HPC Vùng Biển Xa Bờ Khánh Hòa

Môi trường biển xa bờ tỉnh Khánh Hòa đặt ra những thách thức lớn đối với độ bền bê tông HPC. Các công trình như cầu cảng, âu tàu, sân bay, bến đứng, bến nghiêng, công trình quân sự đóng vai trò quan trọng trong an ninh quốc phòng. Việc dự báo tuổi thọ sử dụng công trình BTCT là rất quan trọng để có giải pháp về vật liệu và biện pháp chống ăn mòn phù hợp. Do đó, việc nghiên cứu "Nghiên cứu độ bền của bê tông chất lượng cao trong vùng biển xa bờ tỉnh Khánh Hòa" là cấp thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao. Luận án này tập trung vào nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài, phân tích nguyên nhân gây ăn mòn và đề xuất các giải pháp bảo vệ bê tông hiệu quả.

2.1. Ảnh Hưởng Môi Trường Biển Đến Độ Bền Bê Tông HPC

Môi trường biển, đặc biệt là vùng biển xa bờ, chứa nhiều yếu tố gây hại cho bê tông HPC. Nước biển chứa các ion CloruaSunfat có khả năng xâm nhập vào bê tông, gây ăn mòn cốt thép và phá hủy cấu trúc bê tông. Sóng biển, thủy triều và gió biển cũng tác động cơ học lên bề mặt bê tông, làm suy yếu khả năng chịu lực của công trình. Sự kết hợp của các yếu tố này làm giảm đáng kể tuổi thọ bê tông.

2.2. Nghiên Cứu Ăn Mòn Bê Tông Xác Định Nồng Độ Clo Bề Mặt

Để đánh giá chính xác mức độ ăn mòn bê tông, việc xác định nồng độ Clo bề mặt là rất quan trọng. Các nghiên cứu thực nghiệm cần được tiến hành để đo lường nồng độ ion Clo theo chiều sâu kết cấu BTCT đã xây dựng. Từ đó, xây dựng phương trình nồng độ Clo bề mặt theo thời gian và dự báo tuổi thọ sử dụng công trình. Các kết quả này sẽ cung cấp thông tin quan trọng để lựa chọn vật liệu và biện pháp chống thấm bê tông phù hợp.

2.3. Ăn Mòn Bê Tông Hệ Số Khuếch Tán Clo

Ngoài nồng độ ion Clo, hệ số khuếch tán Clo cũng là một yếu tố quan trọng cần được xem xét. Hệ số này cho biết tốc độ xâm nhập của ion Clo vào bê tông. Việc xác định hệ số khuếch tán Clo giúp dự đoán khả năng chống ăn mòn của các loại bê tông khác nhau. Các thí nghiệm cần được thực hiện để đo lường hệ số khuếch tán Clo của bê tông xi măng Poóc lăng, bê tông Polymer, và bê tông cốt sợi trong môi trường biển Khánh Hòa.

III. Phương Pháp Thiết Kế Bê Tông HPC Đảm Bảo Độ Bền Hướng Dẫn

Luận án này tập trung vào xây dựng phương pháp thiết kế thành phần bê tông HPC theo độ bền. Kết quả của phương pháp là thành phần bê tông HPC ở các cấp cường độ C50, C60 và C70 đảm bảo độ bền trong khu vực biển. Các thí nghiệm được thực hiện để xác định mức độ xâm nhập ion clo bê tông HPC ở 28, 180 và 365 ngày tuổi ở trong phòng thí nghiệm và 365 ngày tuổi ở vùng biển xa bờ tỉnh Khánh Hòa và Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Từ đó đánh giá độ bền bê tông HPC trong các môi trường biển khác nhau.

3.1. Vật Liệu Chế Tạo Bê Tông HPC Yêu Cầu và Lựa Chọn

Việc lựa chọn vật liệu chế tạo bê tông HPC đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo độ bền công trình. Xi măng, cốt liệu, phụ gia khoáng (muội silic, tro bay) và phụ gia hóa học (siêu dẻo) cần đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật nghiêm ngặt. Cần lựa chọn các loại xi măng chịu mặn, cốt liệu có độ sạch cao và các loại phụ gia có khả năng giảm thiểu sự xâm nhập của ion Clo. Tỉ lệ pha trộn giữa các thành phần cũng cần được tính toán kỹ lưỡng để đạt được tính chất cơ học bê tôngtính chất hóa học bê tông mong muốn.

3.2. Tỷ Lệ Nước Chất Kết Dính N CKD Bí Quyết Độ Bền Bê Tông

Tỷ lệ N/CKD ảnh hưởng trực tiếp đến độ bền bê tông. Tỷ lệ N/CKD quá cao sẽ làm tăng độ rỗng của bê tông, tạo điều kiện cho ion Clo xâm nhập. Ngược lại, tỷ lệ N/CKD quá thấp có thể gây khó khăn cho quá trình thi công. Cần xác định tỷ lệ N/CKD tối ưu để đảm bảo độ bền nén của bê tông, độ bền uốn của bê tông, và độ bền kéo của bê tông trong môi trường biển Khánh Hòa.

3.3. Thí Nghiệm Đánh Giá Mức Độ Xâm Nhập Ion Clo Bê Tông HPC

Các thí nghiệm cần được thực hiện để đánh giá mức độ xâm nhập ion Clo vào bê tông HPC ở các điều kiện môi trường khác nhau. Các thí nghiệm bao gồm: thí nghiệm độ thấm Clo, thí nghiệm đo điện trở suất, thí nghiệm đo nồng độ Clo theo chiều sâu. Kết quả của các thí nghiệm này sẽ giúp đánh giá hiệu quả của các biện pháp chống ăn mòn bê tông và lựa chọn thành phần bê tông HPC phù hợp.

IV. Ứng Dụng Bê Tông HPC Trong Công Trình Biển Kết Quả Nghiên Cứu

Luận án ứng dụng bê tông HPC đã nghiên cứu cho công trình âu tàu xây dựng trong vùng biển xa bờ tỉnh Khánh Hòa, từ đó chọn loại bê tông HPC đảm bảo độ bền công trình. Nghiên cứu này có ý nghĩa thực tiễn lớn, góp phần nâng cao tuổi thọ và độ bền của các công trình biển, giảm chi phí bảo trì và đảm bảo an toàn cho hạ tầng quan trọng.

4.1. Thiết Kế Kết Cấu Bê Tông Cốt Thép Bền Vững Yêu Cầu

Thiết kế kết cấu BTCT bền vững trong môi trường biển đòi hỏi sự kết hợp giữa việc lựa chọn vật liệu phù hợp, thiết kế kết cấu hợp lý và áp dụng các biện pháp bảo vệ hiệu quả. Cần xem xét các yếu tố như: tải trọng môi trường, yêu cầu về chất lượng bê tông, và chiều dày lớp bê tông bảo vệ cốt thép. Đặc biệt, cần tính toán đến ảnh hưởng của ăn mòn bê tông đến khả năng chịu lực của kết cấu theo thời gian.

4.2. Lựa Chọn Bê Tông HPC Phù Hợp Cho Công Trình Âu Tàu

Việc lựa chọn loại bê tông HPC phù hợp cho công trình âu tàu là rất quan trọng. Cần xem xét các yếu tố như: cấp cường độ bê tông, khả năng chống thấm, khả năng chống ăn mòn, và chi phí sản xuất. Các thí nghiệm đã thực hiện trong luận án sẽ cung cấp dữ liệu quan trọng để lựa chọn loại bê tông HPC-TS (bê tông HPC đặc biệt) tối ưu cho công trình âu tàu ở Khánh Hòa.

4.3. Giải Pháp Phòng Chống Ăn Mòn Kiến Nghị

Ngoài việc sử dụng bê tông HPC, cần áp dụng các giải pháp phòng chống ăn mòn khác để bảo vệ công trình biển. Các giải pháp bao gồm: sử dụng phụ gia chống ăn mòn cốt thép (chất ức chế ăn mòn), bảo vệ bề mặt bê tông (sơn phủ, lớp phủ chống thấm), sử dụng cốt thép chống ăn mòn (cốt thép mạ kẽm, cốt thép không gỉ), và cấu tạo đảm bảo độ bền (tăng chiều dày lớp bê tông bảo vệ).

V. Kết Luận Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Bê Tông HPC Vùng Biển

Nghiên cứu này đã đánh giá toàn diện về độ bền của bê tông HPC trong môi trường biển xa bờ tỉnh Khánh Hòa, đồng thời đề xuất phương pháp thiết kế và lựa chọn bê tông HPC phù hợp cho các công trình biển. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao tuổi thọ và độ bền của các công trình biển tại Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu sâu hơn trong tương lai.

5.1. Tổng Kết Nghiên Cứu Về Bê Tông Chịu Biển

Nghiên cứu đã thành công trong việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến độ bền của bê tông HPC trong môi trường biển Khánh Hòa, xây dựng phương pháp thiết kế thành phần bê tông HPC theo độ bền, và đề xuất các giải pháp phòng chống ăn mòn hiệu quả. Các kết quả này sẽ giúp các kỹ sư và nhà quản lý đưa ra các quyết định sáng suốt trong việc thiết kế, thi công và bảo trì các công trình biển.

5.2. Hướng Nghiên Cứu Tương Lai Phát Triển Vật Liệu Mới

Trong tương lai, cần tập trung vào việc phát triển các loại vật liệu mới có khả năng chống ăn mòn cao hơn, chi phí thấp hơn và thân thiện với môi trường hơn. Các vật liệu tiềm năng bao gồm: bê tông Geopolymer, bê tông nano, và bê tông sử dụng vật liệu tái chế. Các nghiên cứu cũng cần tập trung vào việc phát triển các phương pháp dự báo tuổi thọ công trình chính xác hơn và các phương pháp bảo trì hiệu quả hơn.

15/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỘ BỀN VÀ ỨNG DỤNG BÊ TÔNG CHẤT LƯỢNG CAO TRONG MÔI TRƯỜNG BIỂN 1.1 Tổng quan về công trình bê tông cốt thép trong môi trường biển 1.1 Đặc điểm môi trường biển Việt Nam. Môi trường biển chủ yếu bao gồm môi trường nước biển và môi trường không khí biển, Hình 1. Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với khí hậu nóng ẩm và thay đổi theo mùa [19].

Dựa theo tính chất xâm thực của môi trường biển và vị trí làm việc của kết cấu có thể phân chia ảnh hưởng của môi trường biển Việt Nam thành các vùng nhỏ có ranh giới sau: - Vùng ngập nước: vị trí kết cấu nằm ngập hoàn toàn trong nước biển. - Vùng nước biển lên xuống và sóng đánh: vị trí kết cấu nằm giữa mực nước cao nhất và thấp nhất của thủy triều, kể cả khu vực bị sóng táp. - Vùng khí quyển biển: vị trí kết cấu nằm trong không khí biển, chia thành các tiểu vùng: + Khí quyển trên mặt biển: khí quyển sát mép nước, vị trí kết cấu so với khoảng cách mép nước nhỏ hơn 0,25km. + Khí quyển trên bờ: vị trí các kết cấu nằm trong bờ phạm vi nhỏ hơn hoặc bằng 1km cách mép nước.

+ Khí quyển gần bờ: vị trí nằm trên bờ cách mép nước 1-20km. Phân vùng môi trường biển 6 Nước biển của các đại dương trên thế giới chứa khoảng 3,5% tổng các lượng muối hòa tan, cụ thể là 2,73% NaCl; 0,32% MgCl2; 0,22% MgSO4; 0,13% CaSO4; 0,02% KHCO3 và một lượng nhỏ CO2 và O2 hòa tan. Độ pH của nước biển đạt trung bình 8,0. Do vậy, nước biển của các đại dương mang tính xâm thực mạnh đối với kết cấu BTCT.

Nước biển Việt Nam có thành phần hóa học, độ mặn và tính xâm thực tương đương nước biển của vùng khác trên thế giới. Riêng vùng gần bờ, độ mặn có suy giảm do ảnh hưởng của các con sông chảy ra biển. Thành phần hóa học và độ mặn của nước biển Việt Nam và Thế giới được thể hiện theo Bảng 1. Thành phần hóa nước biển của một số vùng biển Việt Nam [19] Nồng độ ion Tên vùng biển/ Độ PH Na + Mg+ Cl- SO42- Tên loại ion (g/l) (g/l) (g/l) (g/l) Biển Hà Tĩnh - - - 19,0 2,65 Biển Đà Nẵng - 10,67 1,28 19,2 2,7 Biển Quảng Ngãi 19,27 2,71 Biển Quảng Bình - - - 19,3 2,72 Biển Phú Yên - - - 20,1 2,75 Biển Nha Trang 7,68 - - 19,34 3,85 Biển Hòn Gai 7,8÷8,4 - 0,2÷1,2 6,5÷18,0 1,4÷2,5 Biển Hải Phòng 7,5÷8,3 - 0,002÷1,1 9,0÷18,0 0,002÷2,2 Bảng 1.

Thành phần hóa nước biển của một số vùng bển trên thế giới [19] Tên vùng biển/ Nồng độ ion Tên loại ion Na+ (g/l) Mg+ (g/l) Cl- (g/l) SO42- (g/l) Biển Đen 4,90 0,64 9,50 1,36 Biển Marmara 8,10 1,04 14,39 2,03 Biển Maditerranean 12,40 1,50 21,27 2,60 Biển Bắc 12,20 1,11 16,55 2,22 Biển Atlantic 11,10 1,21 20,00 2,18 Biển Baltic 2,19 0,26 39,60 0,58 Biển Arabian Gulf 20,70 2,30 36,90 5,12 Biển đỏ 11,35 1,87 22,66 3,05 7 Bảng 1. Độ mặn nước biển theo mùa của vùng biển Việt Nam [19] Tháng Trung bình năm Trạm Mùa đông Mùa hè (‰) 12 1 2 6 7 8 Cửa Ông (‰) 29,2 30,0 30,4 25,3 23,4 21,3 26,6 Hòn Gai (‰) 30,8 31,5 31,6 32,2 30,8 29,3 30,9 Hòn Dấu (‰) 26,3 28,1 28,1 17,1 11,9 10,9 21,2 Văn Lý (‰) 25,9 18,3 29,5 25,4 20,1 19,0 24,4 Cửa Tùng (‰) 22,8 27,2 29,3 31,8 31,3 31,7 17,4 Sơn Trà (‰) 8,7 17,6 22,8 - 21,2 26,9 - Vũng Tàu (‰) 30,4 33,1 34,7 29,8 29,8 27,6 30,0 1.1 Đặc điểm vùng khí quyển trên biển và ven biển [19] Trong vùng khí quyển trên biển và ven biển Việt Nam có các đặc trưng sau đây: a) Nhiệt độ không khí Vùng biển Việt Nam có nhiệt độ không khí cao, trung bình từ 22,50oC đến 22,70oC, tăng dần từ Bắc vào Nam. Miền Bắc có 3 tháng mùa đông, nhiệt độ dưới 20oC. Miền Nam nhiệt độ cao đều quanh năm, biên độ dao động từ 7oC-30oC; b) Bức xạ mặt trời Việt Nam là nước nằm trong vành đai nội chí tuyến nên bức xạ mặt trời nhận được trên vùng ven biển là khá lớn từ 100 đến 150 kcal/cm2.

Lượng nhiệt bức xạ tăng dần từ Bắc vào Nam và đạt cao nhất tại cực Nam Trung Bộ. Với lượng bức xạ cao như vậy đã thúc đẩy quá trình bốc hơi nước biển mang theo ion clo vào khí quyển. c) Độ ẩm không khí Độ ẩm không khí ở mức cao so với các vùng biển khác trên thế giới, dao động trung bình từ 75% đến 80%. Cụ thể, độ ẩm vùng ven biển Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ là 83%÷86%, vùng ven biển Trung và Nam Trung Bộ là 75%÷82% và vùng ven biển Nam bộ là 80%÷84%.

d) Thời gian ẩm ướt bề mặt Tổng thời gian ẩm ướt bề mặt của kết cấu trung bình trong năm dao động từ 1.850 giờ/năm đối với vùng ven biển các tỉnh phía Bắc, tập trung chủ yếu vào mùa xuân và giảm xuống còn 450 đến 950 giờ/năm đối với các tỉnh miền Nam, 8 tập trung vào các tháng mùa hạ. Đây là đặc điểm mang tính đặc thù của khí hậu Việt Nam, có ảnh hưởng lớn đến ăn mòn kết cấu BTCT do tác động của khí quyển biển. e) Hàm lượng ion clo trong không khí Khí quyển biển và ven biển có chứa hàm lượng ion clo phân tán cao, dao động từ 0,4 đến 1,3 mgCl-/m2 tại trạm đo sát mép nước ở các tỉnh miền Bắc và từ 1,3 đến 2,0 mgCl-/m2 ở các tỉnh miền Nam. Hàm lượng này giảm mạnh ở cự li 200m đến 250m tính đến sát mép nước, sau đó tiếp tục giảm dần khi đi sâu vào trong đất liền.

Tuy nhiên, do ảnh hưởng của nhiều đợt gió mùa thổi từ biển vào lục địa nên hàm lượng có thể cao hơn.2 Đặc điểm vùng nước lên xuống và sóng đánh Trong vùng nước lên xuống và sóng đánh, tính chất xâm thực của môi trường được tăng cường thêm bởi các yếu tố sau: - Quá trình khô ướt xảy ra thường xuyên và liên tục theo thời gian, tác động từ ngày này qua ngày khác lên bề mặt kết cấu đã làm tăng nhanh mức tích tụ ion clo, H2O và O2 từ nước biển và không khí biển vào trong bê tông thông qua quá trình khuếch tán nồng độ và lực hút mao quản. - Ngoài các quá trình ăn mòn hóa học và điện hóa, trên bề mặt các kết cấu còn xảy ra ăn mòn sinh vật gây nên bởi các loại hà và sò biển hoặc bị bào mòn cơ học do sóng biển, nhất là vào những ngày giông bão và mùa gió lớn. Do đặc điểm như vậy nên vùng nước lên xuống và sóng đánh được xem là vùng xâm thực rất mạnh đối với kết cấu bê tông và BTCT. Căn cứ vào cách phân loại môi trường xâm thực theo TCVN 12041:2017 [6], các mức độ xâm thực phụ thuộc vào vị trí kết cấu, chi tiết trong Bảng 1.

Phân loại mức độ xâm thực của môi trường biển đối với kết cấu BTCT [6] Mức độ tác động ăn mòn STT Môi trường của môi trường đối với kết cấu Bê tông BTCT 1 Vùng ngập nước biển Mạnh Mạnh 2 Vùng nước lên xuống và sóng đánh mạnh Rất mạnh 3 Vùng khí quyển trên biển 0-0,25 km sát mép nước Trung bình Mạnh (1) 4 Vùng khí quyển ven bờ (cách mép nước 0,25-1 km) Nhẹ Mạnh 5 Vùng khí quyển gần bờ (cách mép nước 1-20 km ) - Trung bình (2) Ghi chú: (1): Trực diện mưa và gió biển - rất mạnh; (2): Trực diện mưa và gió biển - mạnh 9 1.2 Đặc điểm môi trường biển xa bờ tỉnh Khánh Hòa 1.1 Vị trí địa lý [35] Vùng biển xa bờ tỉnh Khánh Hòa ở trong khoảng từ 6o30’ đến 12o00’ độ vĩ Bắc, 111o00’ đến 117o20’ độ kinh Đông, cách vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa) khoảng 248 hải lý. Đây là quần thể gồm hơn 100 đảo, bãi ngầm, bãi san hô, trải rộng trên vùng biển khoảng 180.000 km2 và án ngữ vùng biển rộng phía Đông Nam nước ta. Nhìn chung, các đảo thuộc vùng biển xa bờ tỉnh Khánh Hòa có diện tích nhỏ (khoảng vài chục héc-ta trở xuống). Về độ cao của các đảo (so với mặt nước biển trung bình) khoảng từ 3m - 5m, cao nhất là đảo Song Tử Tây, khoảng từ 4m - 6m (lúc thủy triều xuống).2 Điều kiện khí hậu [35] Vùng biển xa bờ Khánh Hòa nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới với hai mùa.

Gió mùa đông nam thổi qua khu vực là từ tháng 12 đến tháng 4, trong khi gió mùa tây nam thổi từ tháng 5 đến tháng 11. Theo số liệu của McManus, Shao & Lin, nhiệt độ không khí trung bình trong năm của khu vực khoảng 27°C. Kết quả đo nhiệt độ trung bình tại trạm khí tượng khu vực biển xa bờ tỉnh Khánh Hòa là 28,2°C về mùa hè (tháng 5 đến tháng 10), trong đó giá trị cực đại là 29,3°C vào tháng 9, là 28,8°C về mùa đông (tháng 10 đến tháng 4), trong đó giá trị cực tiểu là 26,4°C vào tháng 2, nhiệt độ trung bình tháng 4 (tháng chuyển tiếp từ mùa đông sang mùa hè) là 28,8°C, còn nhiệt độ trung bình tháng 10 (tháng chuyển tiếp từ mùa hè sang mùa đông) là 27,8°C, gần xấp xỉ với nhiệt độ trung bình năm. Nhìn chung, biên độ dao động của nhiệt độ không khí không quá 4°C.

Nhiệt độ nước biển bị ảnh hưởng rất lớn bởi yếu tố thời tiết. Do nằm trong vùng nhiệt đới nên nhiệt độ nước biển cao. Đây là đặc điểm đặc trưng cho nước biển vùng biển xa bờ tỉnh Khánh Hòa. Vào mùa đông, nhiệt độ trung bình là 26- 28°C và đạt cực tiểu 25-26°C vào tháng 12 và tháng 1.

Vào mùa hè, nhiệt độ trung bình tầng mặt là 29-31°C và đạt cực đại là 31-32°C vào tháng 5.3 biểu thị nhiệt độ trung bình theo từng tháng trong năm và nhiệt độ trung bình các năm từ năm 1987 đến năm 2020 [35].2 Nhiệt độ trung bình tháng tại vùng biển xa bờ tỉnh Khánh Hòa [35] Hình 1.3 Nhiệt độ trung bình năm tại vùng biển xa bờ tỉnh Khánh Hòa [35] Mùa khô kéo dài từ tháng 2 đến tháng 4, còn mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 1 năm sau. Lượng mưa dao động từ 1.3 Thủy văn tại khu vực xây dựng [35] a. Thủy triều Thủy triều vùng biển xa bờ tỉnh Khánh Hòa là chế độ nhật triều không đều. Đa phần các ngày trong tháng đều có một lần nước lớn, một lần nước ròng.

Biên độ triều tại khu vực trong khoảng 0,8 - 1,8m, lớn nhất có thể lên hơn 2m. Sóng Sóng là một nhân tố ngoại sinh có ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô và cường độ của quá trình bồi - xói bờ biển cửa sông.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ