Đặt Vấn Đề - Xe đạp là Phương tiện giao thông dễ sử dụng, khả năng gây ra tai nạn giao thông là rất thấp, giá thành rẽ từ những ưu điểm đó mà xe đạp vẫn được sử dụng rộng rãi đến ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, con người mong muốn tạo ra một chiếc xe đạp có khả năng tự cân bằng và di chuyển theo mong muốn.Điều đó có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, nó sẽ được ứng dụng trong lĩnh vực giải trí, dùng để dạy cho trẻ em tập lái xe đạp khi kết hợp với bộ điều khiển từ xa, hay phát triển hơn trong lĩnh vực này là dùng để phục vụ cho người khuyết tật có sở thích đi trên chiếc xe đạp của chính mình. - Để xe đạp có thể đứng yên được là việc không dễ dàng vì khi xe đạp bị lệch so với phương thẳng đứng một góc nhỏ sẽ làm cho xe đạp có xu hướng bị mất thăng bằng và ngã xuống, hoặc khi xe đạp chuyển động sẽ chịu nhiều ngoại lực tác động vào, điều này làm cho xe đạp luôn ở trạng thái không thăng bằng được vì thế để điều khiển được xe đạp cân bằng là một việc không dễ dàng. - Xe đạp tự hành là một đối tượng có phi tuyến cao, và không ổn định, vì thế để tạo ra một chiếc xe đạp có khả tự cân bằng khi di chuyển là một nghiên cứu thú vị, điều này tạo ra nhiều thách thức đối với những người làm kỹ thuật. Hiện nay có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực này với mục đích chunglà làm cho xe có khả năng tự cân bằng khi có ngoại lực tác động, những nghiên cứu này phục vụ sự an toàn của người điều khiển giao thông.2 Tổng quan các công trình liên quan.1 Phương pháp điều khiển sự cân bằng của xe Có 4 phương pháp điều khiển sự cân bằng của xe - Phương pháp 1: dùng lực quán tính của bánh đà để điều khiển xe trở về lại vị trí cân bằng khi phát hiện xe bị nghiên.1 Dùng lực quán tính để cân bằng Ưu điểm: dễ điều khiển, phần cơ khí đơn giản.
Nhược điểm: động cơ điều khiển bánh đà phải có đáp ứng nhanh, dòng khởi động lớn - Phương pháp 2: dùng một bánh đà quay với tốc độ cao để tạo ra mômen lực tại tâm điểm, và một động cơ gimbal để điều khiển hướng của mômen lực khi xe đạp bị nghiên.2 Dùng cơ cấu xoay trục gimbal để cân bằng Ưu điểm: mômen lực tạo ra lớn. Nhược điểm: phần cơ khí phức tạp, trọng lượng lớn, động cơ quay với tốc độ cao - Phương pháp 3: điều khiển góc quay của hướng lái sẽ giúp xe đạp giữ được cân bằng.3 Điểu khiển góc quay của bánh lái để cân bằng Ưu điểm: phần cơ khí đơn giản, trọng lượng nhẹ Nhược điểm: khó điều khiển, xe đạp phải luôn chuyển động - Phương pháp 4: điều khiển góc quay của đối trọng sẽ làm cho động cơ thăng bằng Hình 1.4 Dùng đối trọng để cân bằng Ưu điểm: phần cơ khí đơn giản, trọng lượng nhẹ, động cơ quay với tốc độ thấp Nhược điểm: góc cân bằng không lớn, và khó điều khiển.2 Một số công trình nghiên cứu liên quan 1.1Một số sản phẩm thực tế Trang 3 Hình 1.5 Murata BOY (nhật bản 2005) Robot MURATA BOY được nghiên cứu và phát triển bởi công ty Murata Manufacting Company, Ltd. MURATA BOY (hình 1.5) xuất hiện lần đầu tiên vào năm 2005.Robot MURATA BOY giữ thăng bằng dựa vào cảm biến Gyro để xác định được góc nghiêng, sau đó dùng bánh đà xoay với một gia tốc để tạo ra lực quán tính, giúp robot lấy lại cân bằng.6 BicyRobo Thailand Championship (2008) Đây là một bicycle robot có tên Bicyrobo được phát triển tại Viện Công nghệ Châu Á - AIT Thái Lan.6) có thể tự cân bằng, chạy tiến-chạy lùi Trang 4 và rẽ trái-rẽ phải.Bicyrobo được điều khiển cân bằng dựa trên nguyên lý "con quay hồi chuyển - gyroscope", một bánh đà có phương của trục xoay vuông góc với mặt đường, bánh đà đặt trên bánh sau và xoay liên tục với vận tốc cao nhằm tạo một năng lượng giữ cho xe không bị ngã.7 Gyroscopic Stabilizationof a Self-Balancing Robot Bicycle (2011) Đây là công trình nghiên cứu của Pom Yuan Lam and Tan Kian Sin [3] thuộc trường đại học Nanyang của Singapore (hình 1. Xe được điều khiển dựa vào nguyên lý của “con quay hồi chyển” động cơ kéo bánh đà luôn quay một tốc độ không đổi để tạo lực cân bằng và một động cơ khác điều khiển góc quay của khối bánh đà.8 Self-Balancing Electric Motorcycle C-1(2013) Trang 5 Đây là sản phẩm mới nhất công ty LitMotor (hình 1.8) xe cân bằng dựa vào nguyên lý gyroscope, xe được phát triển qua nhiều cải tiến từ năm 2010 cho đến nay.
Xe được thiết kế thẩm mỹ và có thể chịu được ngoại lực tác động lớn mà không bị ngã 1.2Các luật điều khiển đã sử dụng - Fuzzy Sliding-mode Controller [1] của các tác giả Lei Guo, Qizheng Liao, Shiming Wei. Họ đã dùng giải thuật điều khiển trượt dựa trên định lý Euler – Lagrange, để điều khiển đối tượng phi tuyến. Dùng thuật toán Fuzzy để giảm hiện tượng chattering và giúp đối tượng có đáp ứng nhanh, bộ điều khiển fuzzy có thể tự động điều chỉnh các thông số của bộ điều khiển trượt và tự đánh giá chất lượng điều khiển của hệ thống. bằng kết quả mô phỏng tác giả đã cho thấy sự khác nhau khi dùng thuật toán sliding và fuzzy-sliding.
Kết quả đạt được trong quá trình mô phỏng là xe đạp có thể cân bằng trong khoảng (-11.50), tuy nhiên kết quả thực tế của mô hình thì xe bị dao động liên tục trong khoản trên.9 Hình dạng và đáp ứng của mô hình thực tế dùng fuzzy sliding – mode - Thuật toán tối ưu bầy đàn (PSO):Tác giả Bui Trung Thanh và Manukid Parnichkun [2] đã đưa ra luật điều khiển bền vững tối ưu cho hệ phi tuyến, giải thuật này được đánh giá là rất tổng quát vì tác giả dùng thuật toán tối ưu bầy đàn (PSO) để học và tính toán các thông số từ mô hình, mô hình xe đạp tự cân bằng là đối tượng có tính phi tuyến không ổn định, với nhiều tham số và có nhiều nhiễu tác động, nghiên cứu thuật toán bầy đàn dựa trên bộ thông số của xe đạp đã cho ra kết quả tốt hơn thuật toán điều khiển PD và giải thuật di truyền GA. Thuật toán PSO này rất tiện lợi cho sự thay đổi các thông số của mô hình, tuy nhiên giải pháp này Trang 6 rất phức tạp và cần CPU đủ mạnh để có thể đáp ứng.10 Mô hình thực tế và đáp ứng khi dùng thuật toán PSO - Dùng khâu hiệu chỉnh PD:Trong [3] tác giả Pom Yuan Lam và Tan Kian Sin sử dụng phương pháp điều khiển PD cho hệ thống xe đạp được thiết kế cân bằng theo phương pháp gyro scope, phương pháp này bao gồm một bánh đà luôn quay với tần số góc ω không đổi, điều này làm cho hệ thống tiêu thụ nhiều điện năng vì khối lượng bánh đà lớn và động cơ phải đạt được tốc độ cao, và sử dụng một động cơ để lái khối bánh đà này (gimbal motor), việc thay đổi lực hướng từ trọng tâm của bánh đà sẽ tạo ra một lực làm cho xe đạp không bị ngã, phương pháp này làm xe luôn bị dao động ± 30 Hình 1.11 Mô hình và đáp ứng thực tế của hệ thống dùng bộ điều khiển PD - Dùng khâu hiệu chỉnh PID:Luật điều khiển kinh điển PID cũng được áp dụng để điều khiển đối tượng này, nhóm tác giả Suk-in Lee, In-woo Han, Jae-oh Lee, Jang-myung Lee [4] đã thực hiện Phương pháp mô hình, mô phỏng và dùng luật điều khiển PID để điều khiển xe tự hành, kết quả xe có thể tự cân bằng được trong khoảng (-50; +50).12 Mô hình thực tế xe đạp cân bằng dùng bộ điều khiển PID 1.3 Phạm vi nghiên cứu - Đề tài mục đích ứng dụng bộ điều khiển PD mờ để điều khiển giúp cho xe đạp có thể cân bằng được khi đứng yên. Hệ thống có khả năng tự cân bằng, khi có ngoại lực tác động, và tự ổn định quanh vị trí cân bằng với góc lệch trong ngưỡng cho phép. - Ứng dụng chương trình matlab để mô phỏng, kết hợp với ngôn ngữ C để lập trình cho vi điều khiển ARM CortexM4.
Các mục tiêu khoa học - Thiết kế mô hình vật lý xe tự động giữ cân bằng - Xây dựng bộ điều khiển PD mờ giữ cân bằng ổn định xe 2 bánh - Thiết kế robot có thể di chuyển trên xe 2 bánh Các nội dung công việc thực hiện trong luận văn - Mô hình hóa hệ thống xe đạp tự cân bằng. - Khảo sát đặc tính động học của hệ thống - Thiết kế và mô phỏng trên Matlab bộ điều khiển PD và PD mờ. - Thiết kế phần cơ khí cho mô hình. - Thiết kế board mạch điều khiển, board công suất cho động cơ, mạch cảm biến góc lệch - Viết chương trình điều khiển cho vi điều khiển - Lắp mạch lên mô hình và tiến hành chạy thử - Chỉnh sửa lại các hệ số điều khiển để xe chạy ổn định nhất Trang 8 - Phân tích các kết quả đạt được và nêu ra hướng phát triển cho đề tài 1.4 Tóm lược nội dung luận văn Luận văn gồm 5 chương với cấu trúc như sau: Chương 1: Giới thiệu tổng quan về hệ thống xe tự cân bằng và các công trình nghiên cứu liên quan, phân tích các ưu khuyết điểm của các phương pháp điều khiển chọn luật điều khiển phù hợp để điều khiển đối tượng Chương 2: Trình bày chi tiết lý thuyết của bộ điều khiển mờ, PID mờ, PID.
Trình bày sự khác nhau giữa các bộ điều khiển và ảnh hưởng của các thông số Kp, Ki, Kd lên đáp ứng của hệ thống Chương 3:xây dựng phương trình toán học cho mô hình xe cân bằng, sau đó tiến hành mô phỏng để kiểm tra đặc tính của đối tượng và sử dụng các luật điều khiển PD, PD mờ để điều khiển đối tượng Chương 4: Sau khi đã có sơ đồ mô phỏng hoàn chỉnh, sẽ tiến hành thi công mô hình thực tế, việc thiết kế các mạch điều khiển sẽ được hoàn thiện trước, sau đó là thi công phần cơ khí của xe và nhúng phần chương trình điều khiển cho xe hoạt động. Chương 5:Trình bày các kết quả đạt được từ việc điều khiển thực tế và đưa ra hướng phát triển cho đề tài Trang 9 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHO BỘ ĐIỀU KHIỂN Một số phương pháp điều khiển đã được sử dụng cho xe đạp tự cân bằng 2.