Đặt vấn đề Dò đường (navigation) là một khoa học (hay nghệ thuật) dẫn hướng robot tự hành di chuyển trong không gian làm việc của nó (đất, nước, không khí. Trong vấn đề dò đường, bài toán được quan tâm nhiều nhất có lẽ là tìm đường về đích mà không Trang 7 Nguyễn Hồng Phúc Luận văn tốt nghiệp chạm vật cản trên đường đi. Có hai loại bài toán tìm đường cho robot: bài toán cục bộ (local) và bài toán toàn cục (global). Trong bài toán toàn cục, bản đồ môi trường làm việc của robot hoàn toàn được biết trước, vấn đề chính phải giải quyết là tìm được đường đi cho robot trước khi nó xuất phát.
Ở bài toán cục bộ, môi trường làm việc của robot hoàn toàn không được biết trước hoặc chỉ biết được một phần, robot hoàn toàn phải nhờ vào sự cảm nhận môi trường thông qua cảm biến gắn trên nó để dò đường. Bài toán toàn cục tỏ rõ lợi thế là ta đã biết trước có đường đi (tối ưu) tới đích hay không trước khi cho robot khởi hành. Tuy vậy nó có hạn chế là đòi hỏi nhiều lệnh tính toán và bộ nhớ, và đặc biệt tình huống xấu có thể xảy ra nếu bản đồ môi trường làm việc không được khai báo chính xác, yêu cầu biết trước hoàn toàn môi trường hoạt động cũng là một nhược điểm của nó. Trong khi đó, robot tìm đường cục bộ chỉ biết được thông tin xung quanh qua sensor cảm nhận môi trường gắn cùng.
Vì thế, robot tìm đường cục bộ có thể không hoàn thành việc tới đích (mặc dù thực tế có đường đi tới đích), khái niệm tối ưu không có ý nghĩa trong bài toán này. Tuy nhiên, yêu cầu tính toán, dung lượng nhớ thấp cùng tính linh hoạt cao (như tránh được vật cản ngay cả khi vật đó di động) khiến tìm đường cục bộ trở thành một công cụ mạnh của robot tự hành. Hiện nay, cách tiếp cận kết hợp giữa cục bộ và toàn cục đang ở ngày càng phổ biến, giúp robot tự hành tăng tính linh hoạt và hiệu quả. Học viên tập trung vào giải quyết cả hai bài toán nhưng ở mức độ đơn giản, môi trường hoạt động của robot là một mặt phẳng.
Các vật cản được xem là vật cản hai chiều, tĩnh hoàn toàn. Trong bài toán cục bộ, robot được trang bị 3 sensor xác định khoảng cách vật cản, đã biết trước vị trí đích (cụ thể là quả bóng có màu sắc biết trước). Trong bài toán toàn cục, từ đầu vào là vị trí xuất phát, vị trí đích, kích thước robot, bản đồ hoạt động, ta tìm ra đường đi để robot tự hành 2.2 Lựa chọn kiểu mô hình điều khiển robot: a Kiểu mô hình thứ bậc Trang 8 Nguyễn Hồng Phúc Luận văn tốt nghiệp Đây là kiểu mô hình xuất hiện đầu tiên, trong đó robot cố bắt chước cách con người suy nghĩ: sau khi cảm nhận được về thế giới xung quanh, người ta sẽ suy nghĩ để lập kế hoạch, và hành động đáp ứng.2 a Kiểu mô hình thứ bậc Với cách này, dữ liệu cảm nhận thường phải đầy đủ để có một đánh giá bao quát về môi trường xung quanh, sau đó luôn qua xử lý ở bước lập kế hoạch. Như vậy, nó không cho phép dữ liệu truyền thẳng đến hành động như kiểu một phản xạ vô điều kiện, điều này làm cho robot trở nên thiếu nhanh nhẹn.
Kiểu mô hình này đã không còn được sử dụng từ hơn 20 năm qua. Kiểu mô hình phản hồi Kiểu phản xạ gần như ngược lại với kiểu thứ bậc, nó không giữ lại phần lập kế hoạch, các cảm nhận của robot sẽ được truyền trực tiếp sang hành động.2b Kiểu mô hình phản hồi Theo kiểu này, robot chứa sẵn nhiều cặp tương ứng Cảm nhận - Hành động, được gọi là các bộ hành vi. Các hành vi xảy ra có tính đồng thời, do được xử lý riêng rẽ. Và vì robot có thể thực hiện nhiều hành vi một lúc, không lập kế hoạch nên nó tiết kiệm được rất nhiều thời gian.
Kiểu mô hình Trang 9 Nguyễn Hồng Phúc Luận văn tốt nghiệp này đã mang đến nhiều thành tựu to lớn, nhưng rõ ràng nó không thích hợp với các loại robot nhiều chức năng. Nó giống như kiểu người ta dạy các con vật mà không làm cho con vật đó suy nghĩ thông minh hơn. Kiểu mô hình này đòi hỏi sự hiểu biết về không gian hoạt động toàn cục trước khi lập trình để tìm ra tất cả các hành vi có thể có của robot. Các nhà nghiên cứu thực hiện mô hình này để giảm thiểu giá thành phần cứng của sản phẩm bằng cách tăng mức độ tính toán ban đầu khi tạo ra các hành vi của robot.
Kiểu mô hình tổng hợp Kiểu tổng hợp là sự kết hợp 2 khái niệm trên, làm cho robot suy nghĩ uyển chuyển giống người hơn, và hiện nay hầu hết các nghiên cứu đi theo hướng này. Kiểu này tách việc lập kế hoạch ra khỏi các hành vi của robot.3: Kiểu mô hình tổng hợp Hình 2.2 c Kiểu mô hình tổng hợp Lập kế hoạch tương tác với các bộ hành vi bằng một phương thức mà người ta gọi là “nghe lén”. “Nghe lén” là một phương thức lấy thông tin từ bộ phận Cảm nhận để điều chỉnh lại các thông tin toàn cục, tác động trở lại các hành vi của robot. Đề tài này dựa trên sự phát triển của kiểu mô hình tổng hợp vì kiểu mô hình này, các robot thông minh hơn và cũng không tốn nhiều thời gian cho việc lập kế hoạch Trang 10 Nguyễn Hồng Phúc Luận văn tốt nghiệp như ở mô hình thứ bậc, và lại cho phép robot thực hiện nhiều chức năng hơn so với mô hình phản hồi.3 LÝ THUYẾT VỀ XỬ LÝ ẢNH ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI : 2.1 Lý thuyết về ảnh số và xử lý ảnh: a) Khái niệm : Khái niệm về ảnh số xuất hiện từ năm 1964.
Chẳng bao lâu, một nhánh mới của khoa học gọi là xử lý ảnh số ra đời. Kể từ đó , liên tục phát triển và tạo ra các kỹ thuật quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến các lĩnh vực truyền thông , tivi , kỹ xảo đồ họa ,. Xử lý ảnh là một trong các vấn đề ngày nay được thế giới quan tâm , nghiên cứu và ứng dụng. Ở Việt Nam , vấn đề xử lý ảnh cũng được quan tâm và nghiên cứu trong thời gian gần đây.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của máy tính số , xử lý ảnh số với sự hổ trợ của máy tính cũng được phát triển và có nhiều ứng dụng. Các ứng dụng cụ thể như : Trong lãnh vực truyền hình , cũng như việc lấy hình ảnh từ vệ tinh về trái đất thì ảnh có thể giảm chất lượng do tác động của nhiễu từ môi trường hay nhiễu trong các thiết bị xuất nhập. Trong đo đạc bản đồ phục vụ cho việc xây dựng các bản đồ , trong quá trình chụp ảnh đôi khi bản đồ bị mờ, nhòe hoặc bị nhiễu do điều kiện khách quan của môi trường chụp. Do đó, việc xử lý khôi phục lại ảnh gốc là rất quan trọng.
Vấn đề xử lý hình ảnh bằng kỹ thuật số đã được quan tâm , có thể tóm tắt các hướng nghiên cứu chính trong xử lý hình ảnh bằng phương pháp số như sau : - Mã hóa , xấp xỉ và nén hình ảnh (digitalization , approximation , compression) - Khôi phục ảnh, làm nổi bật các đặc trưng lọc, biến đổi, tạo lại hình ảnh (restoration, filtering , enhancement , transforms , reconstrustion). - Nhận dạng hình ảnh (pictorial pattern recognition). Trang 11 Nguyễn Hồng Phúc Luận văn tốt nghiệp - Các đặc trưng phân đoạn , phân tích ảnh (feature detection , segmentation image analysis). - Tạo dạng và mẫu (shape , pattern).
Hình ảnh của một đối tượng là sự sao chụp lại đối tượng đó. Qua hình ảnh mắt ta cảm thụ hình ảnh một cách gián tiếp. Ảnh được hình thành qua hệ thống ảnh. Trong thực tế ảnh sao chụp không phải là lý tưởng , ảnh bị méo , sai lệch với nhiều mức độ khác nhau , vì vậy việc xử lý khôi phục hình ảnh là nhằm khôi phục lại ảnh nguyên gốc theo một tiêu chuẩn nào đó.
Khôi phục là quá trình so sánh một hình ảnh nào đó với một tập các hình ảnh chuẩn. Khôi phục các hình ảnh giảm chất lượng (do chụp và ghi nhận trong điều kiện không thuận lợi hoặc do lưu trữ lâu ngày ) bằng phương pháp số cho hiệu quả cao và nhanh (trong nhiều trường hợp không thể giải quyết bằng phương pháp tương tự ). Hình ảnh được phân vào hai loại : - Hình ảnh tĩnh (static image). - Hình ảnh động (dynamic image).
Hình ảnh được biểu diễn theo nhiều chiều (hai hoặc ba chiều). Tất nhiên hình ảnh nhiều chiều sẽ phức tạp hơn hình ảnh một chiều khi biểu diễn và xử lý. Xử lý hình ảnh là thực hiện các phép toán lên các tín hiệu số của hình ảnh. Khối lượng thông tin trong một bức ảnh là rất lớn (đến vài trăm mêga bít/ảnh).
Bản chất các thông số ảnh có tính vectơ. Để xử lý với tốc độ nhanh , cần có yêu cầu thích hợp về dung lượng bộ nhớ. Các phương pháp mã hóa có hiệu quả , giảm độ dư thừa về thông tin trong ảnh và các thuật toán xử lý nhanh. Trang 12 Nguyễn Hồng Phúc Luận văn tốt nghiệp b) Khái niệm về phần tử ảnh : Ảnh trong thực tế liên tục về không gian và độ sáng, để ảnh có thể xử lý bằng máy tính ta cần thiết phải số hóa ảnh.
Quá trình này, người ta biến đổi tín hiệu tương tự thành tín hiệu rời rạc thông qua quá trình lấy mẫu (rời rạc về không gian) và lượng thành phần giá trị mà về mặt nguyên tắc bằng mắt thường không phân biệt được hai điểm liền kề nhau. Quá trình này người ta sử dụng khái niệm phần tử ảnh mà ta thường gọi là pixel, nó là phần tử nhỏ nhất của ảnh. Như vậy, một ảnh là một tập hợp các pixel. Một ảnh số là một mảng các điểm ảnh được số hóa và đưa vào bộ nhớ của máy tính.
Một số nhị phân chứa trong mỗi điểm ảnh thể hiện cường độ hay bước sóng ánh sáng trong ảnh. Độ phân giải của một ảnh là khu vực của mỗi điểm ảnh, thông thường nó là số điểm ảnh trên mỗi hàng của ảnh, nó là một hàm của khoảng cách từ camera đến khung nhìn, chiều dài hội tụ của thấu kính và số điểm ảnh mỗi hàng của ảnh.