Tổng quan luận án

Bệnh dịch tả lợn cổ điển (Classical Swine Fever - CSF) do virus dịch tả lợn (Classical Swine Fever Virus - CSFV) thuộc chi Pestivirus, họ Flaviviridae gây ra, là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở lợn, thuộc danh mục các bệnh truyền nhiễm phải công bố dịch tại Việt Nam và xếp vào bảng A của Tổ chức Thú y Thế giới (OIE). Bệnh có đặc tính lây lan nhanh qua đường tiêu hóa, niêm mạc, hô hấp, bài tiết và qua nhau thai, xảy ra ở lợn mọi lứa tuổi với tỷ lệ tử vong có thể lên tới 100% ở lợn con. Trong thực tế chăn nuôi tại Việt Nam, sự biến đổi của điều kiện tự nhiên, thời tiết, tập quán chăn nuôi nhỏ lẻ, biến động đàn và tỷ lệ tiêm phòng không đồng đều khiến bệnh dịch tả lợn diễn biến phức tạp. Đặc biệt, hiện tượng "dung nạp miễn dịch" (immunological tolerance) xuất hiện khi lợn nái mang trùng hoặc lợn nái mang thai bị cảm nhiễm/tiêm vaccine nhược độc ở giai đoạn đầu thai kỳ truyền virus qua nhau thai; lợn con sinh ra mang virus dai dẳng, không đáp ứng sinh kháng thể khi tiêm phòng vaccine và mẫn cảm cao với các chủng virus cường độc thực địa, trở thành nguồn tàng trữ và phát tán mầm bệnh. Trước thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình nào đánh giá một cách toàn diện và hệ thống về dịch tễ học lâm sàng, dịch tễ học phân tử kết hợp kiểm chứng hiện tượng dung nạp miễn dịch trên tổng thể đại diện đàn lợn nuôi tại miền Bắc Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 3 nội dung:

  1. Cập nhật và phân tích một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh dịch tả lợn tại miền Bắc Việt Nam giai đoạn 2014 - 2017 (tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tử vong, hệ số năm dịch, hệ số tháng dịch, tỷ lệ hiện mắc, tốc độ mắc bệnh theo không gian và thời gian).
  2. Xác định hiện tượng mang trùng ở lợn nái và hiện tượng dung nạp miễn dịch ở đàn lợn con sinh ra tại khu vực nghiên cứu.
  3. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học phân tử của các chủng virus dịch tả lợn phân lập được tại miền Bắc Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nuôi các lứa tuổi (lợn con theo mẹ, lợn 1 - 3 tháng tuổi, lợn 3 - 6 tháng tuổi, lợn nái, lợn đực giống), các phương thức chăn nuôi (nông hộ, bán công nghiệp, công nghiệp), các nhóm giống lợn (lai giống nội, lai giống ngoại); các mẫu phủ tạng, máu, huyết thanh của lợn mắc bệnh/nghi mắc bệnh và các chủng virus dịch tả lợn lưu hành.
  • Phạm vi không gian: 10 tỉnh đại diện cho 3 vùng sinh thái tại miền Bắc Việt Nam, bao gồm: vùng Tây Bắc Bộ (Hòa Bình, Yên Bái, Sơn La), vùng Đông Bắc Bộ (Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên) và vùng Đồng Bằng Sông Hồng (Nam Định, Hà Nam, Thái Bình, Hải Dương); thực nghiệm xét nghiệm tại Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ sinh học thú y và Phòng thí nghiệm Bộ môn Bệnh lý học, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu dịch tễ học, mẫu bệnh phẩm và thực hiện các thí nghiệm trong giai đoạn từ tháng 01/2014 đến tháng 12/2017.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan y văn trong luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về dịch tễ học, đặc tính sinh học phân tử của CSFV và các biện pháp kiểm soát bệnh:

  • Nghiên cứu trên thế giới: Lịch sử bệnh dịch tả lợn được ghi nhận bởi Hanson (1957) tại Tennessee (1810) và Ohio (1833) thuộc Bắc Mỹ; Fuchs (1968) ghi nhận bệnh tại Anh (1862), Đan Mạch và Thụy Điển (1887). Bệnh phân bố toàn cầu, gây ra các tổn thất lớn ở châu Âu vào những năm 1980 - 1990 (Rassow, 1997; Oleksiewicz et al., Mesplede et al., 1997). Về phân loại kiểu gen, các công trình của Paton et al. (2000), Postel et al. (2013), Goller et al., Blome et al. (2017) xác lập hệ thống phân loại CSFV thành 3 nhóm gen chính (genotype 1, 2, 3) với nhiều phân nhóm (sub-genotype). Các nghiên cứu tại Trung Quốc và khu vực châu Á ghi nhận sự chuyển dịch và lưu hành ưu thế của các phân nhóm genotype 2.1, 2.2 và 1.1 (Gong et al., 2016; Sun et al., Zhang et al., Titov et al., 2015). Cơ sở dữ liệu chuỗi trình tự CSF-DB tại Phòng thí nghiệm Tham chiếu của EU và OIE được vận hành nhằm giám sát sự tiến hóa phân tử của virus (Greiser-Wilke et al., 2000; Dreier et al., 2007).
  • Nghiên cứu tại Việt Nam: Bệnh được phát hiện lần đầu vào năm 1923 - 1924 bởi Houdenner (Đào Trọng Đạt và cs., 1989). Các công trình của Đào Trọng Đạt và Nguyễn Tiến Dũng (1984), Đào Trọng Đạt và Trần Thị Tố Liên (1989), Lê Minh Chí và cs. đã ghi nhận các đợt dịch lớn trong các thập niên 1960 - 1980 tại miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Nguyễn Tiến Dũng và cs. (1997) phân tích khả năng thải virus cường độc ở lợn đã tiêm vaccine; Đào Trọng Đạt và cs. (1988) nghiên cứu ảnh hưởng của miễn dịch thụ động truyền qua sữa mẹ đến đáp ứng vaccine của lợn con; Nguyễn Xuân Bình (1998) khảo sát dịch tả lợn mạn tính; Bùi Trần Anh Đào và Nguyễn Hữu Nam (2009) mô tả tỷ lệ xuất hiện các bệnh tích đại thể; Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012, 2013) nghiên cứu đặc tính bệnh lý và phân lập virus; Nguyễn Thế Vinh, Ken Inui, Hồ Thu Hương và Nguyễn Tiến Dũng (2007) bước đầu phân tích di truyền các chủng CSFV tại Việt Nam.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu riêng lẻ về bệnh lý và chẩn đoán, nhưng giai đoạn 2014 - 2017 tại miền Bắc Việt Nam thiếu vắng một nghiên cứu dịch tễ học định lượng toàn diện trên quy mô lớn phân tích đầy đủ các chỉ số dịch tễ học chuẩn tắc (hệ số năm dịch, hệ số tháng dịch, tỷ lệ hiện mắc, tốc độ mắc bệnh theo tuần) kết hợp kiểm định thống kê đa biến. Đồng thời, cơ chế mang trùng ở lợn nái thực địa và tác động của việc tiêm phòng vaccine dịch tả lợn trong giai đoạn mang thai gây ra hiện tượng dung nạp miễn dịch ở lợn con chưa được đánh giá bằng thực nghiệm cụ thể gắn liền với phân tích phả hệ di truyền toàn diện của các chủng virus gây bệnh trong cùng thời kỳ.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  • Đặc điểm sinh học của virus CSFV: CSFV là virus có vỏ bọc lipid, đường kính 40 - 50 nm, nucleocapsid 29 nm đối xứng hình cầu. Bộ gen là chuỗi đơn RNA dương dài khoảng 12,3 kb chứa một khung đọc mở (open reading frame - ORF) nằm giữa hai vùng không dịch mã 5’NTR và 3’NTR, mã hóa polyprotein gồm khoảng 3.898 - 3.900 amino acid. Polyprotein được cắt bởi protease của virus và tế bào chủ thành 4 protein cấu trúc (C, Erns, E1, E2) và 7 protein phi cấu trúc (Npro, NS2, NS3, NS4A, NS4B, NS5A, NS5B). Trong đó, glycoprotein E2 (gp55) nằm trên bề mặt vỏ ngoài, có tính sinh kháng nguyên mạnh nhất, kích thích cơ thể sinh kháng thể trung hòa và là chỉ thị phân tử chuẩn để xác định phân nhóm di truyền và phả hệ của CSFV (Van Gennip and R., 1992; Thiel et al., 1991; Moormann and Hulot, 1998).
  • Cơ chế bệnh sinh và hiện tượng dung nạp miễn dịch: Virus xâm nhập gây tổn thương hệ thống tế bào nội mô mạch máu, giảm bạch cầu, hoại tử mô lympho. Lây truyền dọc qua nhau thai xảy ra khi virus xâm nhiễm bào thai trước 45 - 65 ngày thai kỳ; hệ miễn dịch chưa hoàn thiện của thai xem kháng nguyên virus là "kháng nguyên bản thân", dẫn tới hiện tượng dung nạp miễn dịch bẩm sinh, làm mất khả năng sản sinh kháng thể đặc hiệu sau khi sinh và sau khi tiêm phòng vaccine nhược độc (Van, 1998; Kamakawa, 2006).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp đồng bộ ba nhóm phương pháp:

  1. Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học:

    • Thiết kế nghiên cứu cắt ngang và theo dõi dọc để thu thập dữ liệu dịch tễ học tại 10 tỉnh miền Bắc (Tây Bắc Bộ: Sơn La, Yên Bái, Hòa Bình; Đông Bắc Bộ: Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên; Đồng Bằng Sông Hồng: Nam Định, Hà Nam, Thái Bình, Hải Dương).
    • Xác định ca bệnh dựa trên triệu chứng lâm sàng, bệnh tích mổ khám và xác nhận trong phòng thí nghiệm.
    • Các công thức dịch tễ học: Tính tỷ lệ mắc bệnh (cấp xã, cấp đàn, cấp cá thể), tỷ lệ tử vong, hệ số năm dịch (HSND), hệ số tháng dịch (HSTD), chỉ số mắc bệnh trung bình tháng (CSMBTBT), tỷ lệ hiện mắc (TLHM), tốc độ mới mắc/tốc độ mắc bệnh (TĐMM).
  2. Phương pháp huyết thanh học và miễn dịch học:

    • Kỹ thuật ELISA (Enzyme-Linked ImmunoSorbent Assay) phát hiện kháng nguyên CSFV trong bệnh phẩm và kháng thể kháng CSFV trong huyết thanh lợn nái, lợn con ở các thời điểm 35 ngày tuổi và 56 ngày tuổi (21 ngày sau tiêm phòng vaccine nhược độc).
    • Đánh giá hiện tượng mang trùng ở lợn nái trước khi phối giống và thử nghiệm can thiệp tiêm vaccine nhược độc dịch tả lợn cho lợn nái ở 25 ngày sau khi phối giống để theo dõi đáp ứng kháng thể ở lợn con.
  3. Phương pháp sinh học phân tử và dịch tễ học phân tử:

    • Tách chiết RNA tổng số từ mẫu bệnh phẩm hạch lympho, lách, thận lợn bệnh.
    • Kỹ thuật Reverse Transcription - Polymerase Chain Reaction (RT-PCR) và RT-nested PCR khuếch đại đoạn gen E2 và toàn bộ genome sử dụng các cặp mồi chuyên biệt.
    • Giải trình tự gen trực tiếp theo phương pháp Sanger; hiệu chỉnh và gióng hàng chuỗi nucleotide bằng phần mềm MAFFT phiên bản 7.
    • Xây dựng cây phả hệ phát sinh loài bằng phần mềm MEGA 7 (phương pháp Neighbor-Joining) và phân tích dịch tễ học phân tử Bayes theo không gian - thời gian (Bayesian phylogeography) bằng BEAST phiên bản 1.8.4 và BEAUti.
  4. Phương pháp xử lý số liệu:

    • Số liệu dịch tễ học được phân tích bằng phần mềm R phiên bản 3.3 với các gói thư viện chuyên dụng: mvtnorm, survival, MASS, TH.data, multcomp, abind.
    • Sử dụng mô hình phân tích phương sai một nhân tố (One-way ANOVA, hàm aov), kiểm định so sánh bội Tukey-Kramer (glht với mcp(Tukey)), kiểm định t-test hai mẫu độc lập (t.test) với mức ý nghĩa thống kê $p < 0,05$ và khoảng tin cậy 95%.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp toàn diện các tài liệu khoa học về bệnh dịch tả lợn cổ điển trên thế giới và tại Việt Nam. Nội dung tập trung phân tích đặc tính sinh học, hình thái, cấu trúc hạt virus CSFV, cấu trúc bộ gen đơn RNA và vai trò chức năng của các protein cấu trúc ($C$, $E^{rns}$, $E1$, $E2$), protein phi cấu trúc ($N^{pro}$, $NS2$, $NS3$, $NS4A$, $NS4B$, $NS5A$, $NS5B$). Chương 1 phân tích cơ chế truyền lây ngang và truyền lây dọc, cơ chế sinh bệnh học, triệu chứng lâm sàng ở ba thể bệnh (quá cấp tính, cấp tính, mạn tính) và bệnh tích đại thể đặc trưng (xuất huyết điểm ở vỏ thận, nhồi huyết rìa lách hình răng cưa, loét hình cúc áo ở van hồi manh tràng và ruột già, hạch lympho sưng tụ huyết dạng vân đá). Ngoài ra, tác giả tổng quan các phương pháp chẩn đoán huyết thanh học (ELISA, NPLA), chẩn đoán phân tử (RT-PCR, Realtime RT-PCR), các chủng vaccine nhược độc (chủng C, chủng GPE-, chủng Thiverval) và bản chất của hiện tượng mang trùng tiềm ẩn, dung nạp miễn dịch qua nhau thai.

Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết đối tượng, địa bàn khảo sát gồm 10 tỉnh đại diện cho 3 vùng sinh thái miền Bắc Việt Nam, khung thời gian từ 2014 đến 2017. Mô tả tiêu chuẩn lựa chọn mẫu bệnh phẩm, quy trình mổ khám bệnh tích, quy trình tách chiết RNA, hóa chất, sinh phẩm ELISA, các chu trình nhiệt của phản ứng RT-PCR và RT-nested PCR khuếch đại gen E2 và genome virus. Thiết lập quy trình giải trình tự gen, sử dụng phần mềm MAFFT 7, MEGA 7 và BEAST 1.8.4 để phân tích phả hệ đối chiếu với 384 trình tự CSFV tham chiếu trên GenBank từ nhiều quốc gia. Chương này cũng nêu rõ các mô hình toán học dịch tễ tính HSND, HSTD, TLHM, TĐMM và toàn bộ mã lệnh phân tích phương sai ANOVA, kiểm định Tukey trên phần mềm R 3.3.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương kết quả được cấu trúc thành 3 phần trọng tâm:

1. Đặc điểm dịch tễ học bệnh dịch tả lợn tại miền Bắc giai đoạn 2014 - 2017

Tác giả phân tích dữ liệu điều tra dịch tễ học trên các cấp độ địa lý, lứa tuổi, phương thức chăn nuôi, giống lợn và biến động theo thời gian:

Bảng 1: Phân tích các chỉ số dịch tễ học bệnh dịch tả lợn theo vùng địa lý tại miền Bắc Việt Nam

Chỉ tiêu dịch tễ Đông Bắc Bộ Đồng Bằng Sông Hồng Tây Bắc Bộ Giá trị kiểm định thống kê
Tỷ lệ mắc cấp xã (%) $38,85 \pm 2,85$ $42,41 \pm 4,41$ $40,32 \pm 3,12$ $F = 1,02$; $p > 0,05$ (Không sai khác)
Tỷ lệ mắc cấp đàn (%) $34,36 \pm 4,48^{\text{a}}$ $58,79 \pm 0,79^{\text{b}}$ $29,72 \pm 3,95^{\text{a}}$ $F = 43,15$; $p < 0,001$ (ĐBSH cao hơn rõ rệt)
Tỷ lệ mắc cấp cá thể (%) $2,36 \pm 0,54^{\text{ab}}$ $3,36 \pm 1,36^{\text{b}}$ $1,42 \pm 0,18^{\text{a}}$ $F = 3,98$; $p < 0,05$ (ĐBSH khác biệt Tây Bắc)
Tỷ lệ tử vong (%) $94,86 \pm 1,98$ $92,55 \pm 1,08$ $93,42 \pm 1,52$ $F = 1,46$; $p > 0,05$ (Không sai khác)

Ghi chú: Các chữ cái khác nhau ($a, b, ab$) trong cùng một hàng thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê qua kiểm định Tukey ($p < 0,05$).

Bảng 2: Tỷ lệ mắc bệnh theo lứa tuổi, phương thức chăn nuôi và giống lợn

Nhóm phân loại Phân nhóm cụ thể Tỷ lệ mắc bệnh (%) Ý nghĩa thống kê
Lứa tuổi Lợn 1 - 3 tháng tuổi $5,52 - 5,96 \pm 1,05$ Cao nhất, khác biệt có ý nghĩa so với các nhóm khác ($p < 0,001$)
Lợn con theo mẹ $1,45 \pm 0,22$ Nhóm a ($p > 0,05$ so với lợn thịt, lợn nái)
Lợn 3 - 6 tháng tuổi $1,52 \pm 0,31$ Nhóm a
Lợn nái $0,41 \pm 0,09$ Nhóm a
Lợn đực giống $0,38 \pm 0,08$ Nhóm a
Phương thức chăn nuôi Chăn nuôi nông hộ $5,92 \pm 0,37$ Cao nhất, khác biệt so với bán CN và CN ($p < 0,001$)
Bán công nghiệp $2,43 \pm 0,28$ Nhóm a
Công nghiệp $2,21 \pm 0,25$ Nhóm a
Giống lợn nuôi Lợn lai giống ngoại $2,65 \pm 0,34$ $t = 0,6235$; $p > 0,05$ (Không có sai khác giữa 2 nhóm giống)
Lợn lai giống nội $2,52 \pm 0,31$

Về phân bố theo thời gian, phần lớn các tỉnh có 2 năm dịch (HSND > 1), riêng Thái Bình có 3 năm dịch và Sơn La, Nam Định có 1 năm dịch. Bệnh bùng phát tập trung vào hai đợt trong năm: tháng 2 - 4 và tháng 8 - 11 (HSTD > 1). Tỷ lệ hiện mắc sau 3 năm điều tra đạt từ 2,26% đến 2,46%, tốc độ mắc bệnh của quần thể là 0,0434 - 0,0474 con/tuần.

2. Kết quả đánh giá hiện tượng mang trùng và dung nạp miễn dịch

  • Khảo sát thực địa ở đàn nái địa phương: Tỷ lệ lợn nái mang virus tiềm ẩn (xét nghiệm trước phối giống) là 16,5% - 17,0%. Đàn lợn con sinh ra từ nhóm nái mang trùng có tỷ lệ âm tính với kháng thể dịch tả lợn lúc 35 ngày tuổi lên tới 87,69% - 88,71%. Sau khi được tiêm phòng vaccine nhược độc, tại thời điểm 21 ngày sau tiêm (56 ngày tuổi), tỷ lệ lợn con vẫn tiếp tục âm tính với kháng thể đạt từ 77,27% đến 79,82%.
  • Thực nghiệm can thiệp: Ở đàn lợn nái âm tính với CSFV nhưng được tiêm phòng vaccine dịch tả lợn nhược độc vào thời điểm 25 ngày sau khi phối giống (đầu thai kỳ), đàn lợn con sinh ra thể hiện tình trạng dung nạp miễn dịch rõ rệt: tỷ lệ lợn con âm tính kháng thể lúc 35 ngày tuổi đạt 83,17% (năm 2016) và 86,54% (năm 2017); tỷ lệ âm tính sau 21 ngày tiêm phòng vaccine (56 ngày tuổi) đạt từ 76,09% đến 80,43%.

3. Đặc điểm dịch tễ học phân tử của các chủng virus dịch tả lợn

Phân lập và giải trình tự gen E2 của 15 chủng CSFV thu thập tại các tỉnh miền Bắc (gồm các chủng ký hiệu ND2, ND9, ND20, ND21, HD1, HY58, HY78, HY91, HY92, BG47, NA5...) và phân tích toàn bộ bộ gen của chủng MH979232 (ND20) và MH979231 (HY78):

  • Các chủng phân lập tại miền Bắc thuộc nhóm gen 2 (genotype 2), chia thành 2 phân nhóm rõ rệt: sub-genotype 2.1 và sub-genotype 2.2.
  • Sub-genotype 2.1 (như chủng HY78) có độ tương đồng di truyền cao và có quan hệ di truyền rất gần với các chủng lưu hành tại Trung Quốc giai đoạn 2008 - 2011 (GDPY, GDHZ, HN, HNLY-11).
  • Sub-genotype 2.2 (như chủng ND20) có quan hệ tiến hóa gần gũi với các chủng phân lập từ châu Âu (Đức, Áo, Cộng hòa Séc, Ý) và châu Á (Đài Loan, Nepal).
  • Sự khác biệt về trình tự nucleotide và amino acid suy diễn trên gen E2 giữa các chủng thực địa lưu hành hiện nay với chủng lịch sử VN91 (thuộc genotype 1.1) và các chủng vaccine nhược độc (C-strain) chỉ ra áp lực biến đổi kháng nguyên tại các epitop trung hòa của protein E2.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn

  1. Cung cấp bộ số liệu dịch tễ học chuẩn xác, cập nhật giai đoạn 2014 - 2017 về bệnh dịch tả lợn tại 10 tỉnh miền Bắc Việt Nam: Xác định tỷ lệ mắc bệnh cấp xã (38,75% - 42,50%), cấp đàn (29,72% - 58,79%), cấp cá thể (1,42% - 3,36%) và tỷ lệ tử vong (92,13% - 94,86%); chỉ rõ lợn giai đoạn 1 - 3 tháng tuổi có tỷ lệ mắc cao nhất (5,52% - 5,96%) và phương thức chăn nuôi nông hộ chịu rủi ro mắc bệnh cao nhất (5,92%), trong khi yếu tố giống lợn không ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh.
  2. Xác định các chỉ số định lượng về thời gian: Hệ số năm dịch (> 1 trong 2 năm tại đa số các tỉnh), hệ số tháng dịch (tập trung vào 2 đợt: tháng 2 - 4 và tháng 8 - 11), tỷ lệ hiện mắc (2,26% - 2,46%) và tốc độ mắc bệnh (0,0434 - 0,0474 con/tuần).
  3. Chứng minh thực nghiệm hiện tượng mang trùng tiềm ẩn ở lợn nái (16,5% - 17,0%) và hiện tượng dung nạp miễn dịch ở lợn con: Lợn con sinh ra từ nái mang trùng hoặc nái tiêm vaccine nhược độc ở ngày thứ 25 thai kỳ có tỷ lệ không đáp ứng miễn dịch (âm tính với kháng thể) sau khi tiêm phòng đạt từ 76,09% đến 80,43%.
  4. Xác định cấu trúc di truyền phân tử của CSFV lưu hành tại miền Bắc: Các chủng thuộc genotype 2 (gồm sub-genotype 2.1 và 2.2), xác định quan hệ dịch tễ học phân tử xuyên biên giới với các chủng từ Trung Quốc và châu Âu.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Về quản lý đàn giống: Tuyệt đối không tiêm vaccine dịch tả lợn nhược độc cho lợn nái trong giai đoạn đầu của thai kỳ (đặc biệt trong 30 - 45 ngày đầu sau phối giống) để tránh tạo ra hiện tượng dung nạp miễn dịch ở đời con. Tiến hành xét nghiệm sàng lọc loại thải lợn nái mang virus tiềm ẩn trước khi đưa vào phối giống.
  • Về quy trình tiêm phòng: Điều chỉnh lịch tiêm phòng vaccine cho đàn lợn con phù hợp với tình trạng miễn dịch đàn; kiểm tra hiệu giá kháng thể sau tiêm phòng bằng kỹ thuật ELISA để phát hiện các cá thể dung nạp miễn dịch không đáp ứng vaccine.
  • Về dịch tễ học và giám sát: Tập trung nguồn lực kiểm soát dịch bệnh vào hai đợt cao điểm trong năm (tháng 2 - 4 và tháng 8 - 11), ưu tiên kiểm soát an toàn sinh học ở các cơ sở chăn nuôi nông hộ và lợn lứa tuổi 1 - 3 tháng tuổi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án thực hiện thu thập dữ liệu và phân tích dịch tễ học tập trung tại 10 tỉnh đại diện cho 3 vùng sinh thái miền Bắc Việt Nam trong khung thời gian 2014 - 2017, do đó các thông số dịch tễ học và cấu trúc phân nhóm virus chưa bao quát toàn bộ các tỉnh miền Trung và miền Nam trong cùng giai đoạn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phân tích dịch tễ học phân tử giải trình tự toàn bộ hệ gen (complete genome) trên số lượng lớn hơn các chủng phân lập từ các vùng địa lý khác nhau trên phạm vi cả nước.
    • Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế sinh học phân tử của hiện tượng dung nạp miễn dịch và đánh giá hiệu lực bảo hộ chéo của các chủng vaccine hiện hành đối với các phân nhóm biến chủng sub-genotype 2.1 và 2.2 đang lưu hành thực tế.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu cho các đối tượng và cơ quan chuyên môn:

  • Cán bộ nghiên cứu và nghiên cứu sinh chuyên ngành Dịch tễ học thú y, Bệnh lý thú y, Thú y dự phòng: Cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về điều tra dịch tễ học động vật, phương pháp tính toán các chỉ số dịch tễ học (HSND, HSTD, TLHM, TĐMM), quy trình xử lý số liệu ANOVA và kiểm định Tukey trên ngôn ngữ R, cũng như quy trình ứng dụng BEAST và MEGA trong phân tích phả hệ Bayes.
  • Giảng viên các trường đại học khối Nông - Lâm - Ngư nghiệp, Thú y: Làm học liệu giảng dạy cho các học phần Dịch tễ học thú y, Bệnh truyền nhiễm gia súc, Công nghệ sinh học thú y và Miễn dịch học thú y.
  • Cơ quan quản lý thú y (Cục Thú y, Chi cục Chăn nuôi và Thú y các tỉnh): Cơ sở thực tiễn để ban hành các văn bản hướng dẫn kỹ thuật, xây dựng kế hoạch quốc gia phòng chống bệnh dịch tả lợn cổ điển, xây dựng lịch tiêm phòng vaccine và quy chuẩn kiểm tra huyết thanh học định kỳ.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ mắc bệnh dịch tả lợn giữa các phương thức chăn nuôi tại miền Bắc khác biệt như thế nào?
Trả lời: Dữ liệu luận án chỉ ra sự khác biệt rõ rệt và có ý nghĩa thống kê ($p < 0,001$): phương thức chăn nuôi nông hộ có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ($5,92 \pm 0,37%$), trong khi chăn nuôi bán công nghiệp ($2,43 \pm 0,28%$) và chăn nuôi công nghiệp ($2,21 \pm 0,25%$) có tỷ lệ mắc thấp hơn đáng kể.

2. Lứa tuổi nào của đàn lợn có tỷ lệ mắc bệnh dịch tả lợn cao nhất trong giai đoạn nghiên cứu?
Trả lời: Lợn ở giai đoạn từ 1 đến 3 tháng tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất, đạt $5,52% - 5,96 \pm 1,05%$, khác biệt có ý nghĩa thống kê ($p < 0,001$) so với lợn con theo mẹ ($1,45%$), lợn 3 - 6 tháng tuổi ($1,52%$), lợn nái ($0,41%$) và lợn đực giống ($0,38%$).

3. Hiện tượng dung nạp miễn dịch ở lợn con biểu hiện cụ thể như thế nào qua các số liệu xét nghiệm?
Trả lời: Ở lợn con sinh ra từ nái mang virus hoặc nái được tiêm vaccine nhược độc lúc 25 ngày sau phối giống: tỷ lệ lợn con âm tính với kháng thể lúc 35 ngày tuổi dao động từ $83,17%$ đến $88,71%$. Sau khi tiêm phòng vaccine nhược độc 21 ngày (lúc 56 ngày tuổi), có tới $76,09% - 80,43%$ số lợn con vẫn tiếp tục âm tính với kháng thể đặc hiệu, không có đáp ứng miễn dịch bảo hộ.

4. Các chủng virus dịch tả lợn phân lập tại miền Bắc thuộc nhóm gen (genotype) nào và có nguồn gốc dịch tễ học ra sao?
Trả lời: Các chủng CSFV phân lập được tại miền Bắc trong giai đoạn 2014 - 2017 thuộc genotype 2, gồm hai phân nhóm: sub-genotype 2.1 (có quan hệ di truyền rất gần với các chủng lưu hành tại Trung Quốc giai đoạn 2008 - 2011 như GDPY, GDHZ, HN, HNLY-11) và sub-genotype 2.2 (có quan hệ gần gũi với các chủng phân lập từ một số nước châu Âu và châu Á như Đài Loan, Nepal).

5. Giống lợn nuôi có ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh dịch tả lợn cổ điển hay không?
Trả lời: Không. Phân tích thống kê bằng kiểm định t-test cho thấy không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê ($t = 0,6235; p > 0,05$) về tỷ lệ mắc bệnh giữa nhóm lợn lai giống nội ($2,52 \pm 0,31%$) và nhóm lợn lai giống ngoại ($2,65 \pm 0,34%$).


Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Phục Hưng đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu thông qua việc thiết lập bộ cơ sở dữ liệu định lượng dịch tễ học của bệnh dịch tả lợn cổ điển tại miền Bắc Việt Nam giai đoạn 2014 - 2017, chỉ rõ sự lưu hành tập trung theo mùa vụ, lứa tuổi và phương thức chăn nuôi. Công trình đã chứng minh bằng thực nghiệm sự tồn tại của hiện tượng mang trùng ở lợn nái và hiện tượng dung nạp miễn dịch ở lợn con, giải thích nguyên nhân thất bại vaccine trong thực địa chăn nuôi. Đồng thời, luận án đã xác định đặc điểm dịch tễ học phân tử của các chủng CSFV lưu hành thuộc phân nhóm genotype 2.1 và 2.2, mang lại cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho công tác giám sát, điều chỉnh lịch vaccine và phòng chống dịch bệnh hiệu quả tại Việt Nam.