CHƯƠNG I - TONG QUAN VE DỊCH MAY 1.1 Khai niém dich may Dich may (Machine Translation) là một hướng phát triển có lịch sử lâu đời từ thập ky 50 và được phát triển mạnh mẽ vào thập kỷ 80 [19]. Ngôn ngữ của văn bản cần dịch được gọi là ngôn ngữ nguồn, ngôn ngữ của văn bản đã dịch gọi là ngôn ngữ đích.2 Kiến trúc chung của một hệ dịch máy Kiến trúc hiện thời của một hệ dịch máy có thể được phân thành 3 lớp chính sau: trực tiếp, chuyên đối, và liên ngữ [12]. Ba lớp này tương ứng với các loại khác nhau (Hình 1.1) phụ thuộc vào mức độ phân tích của hệ thống. ec ` - o= ngữ nghĩa >C cis 2 ngữ nghĩa Phan tích ———~ Chuyển đỗi "T—=——C “Sinh tigữ nghĩa = ngitnghia tigữ nghia — cấu trúc Cầu trúc Be a Chuyển đổi củ pháp _ì cu Ss Câu trúc = Cau Phan tích cu ã nàn cú h tức tử tuuốc từ Dịch trực tiếp a hình thái Van ban đích nh thái Phân tich Hình 1.1: Các loại hệ thống dịch máy Kiến trúc dịch trực tiếp (Direct Architecture): Thay thé từng từ trong văn bản nguồn thành từ trong văn bản đích rồi sinh trở lại văn bản đích theo đúng thứ tự văn bản nguồn.
Kiến trúc này đơn giản nhưng không đạt hiệu quả cao vì các khác 10 biệt về cú pháp và tính đa nghĩa của từ. Kiến trúc này được áp dụng vào những năm đầu của lịch sử dịch máy và đạt được thành công trong những ngữ cảnh hẹp hoặc trong bài toán đòi hỏi chất lượng không cao lắm. Kiến trúc dịch chuyển đổi (Transfer Architecture): Gồm hai mức, chuyên đôi cú pháp và chuyên đổi ngữ nghĩa, thực hiện chuyển đổi các tri thức ngôn ngữ từ ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích (từ, cú pháp, nghĩa,. Kiến trúc này có độ chính xác cũng như dễ đọc dễ hiểu, giải quyết mập mờ tốt hơn nhiều kiến trúc dịch trực tiếp.
Tuy vậy thường phải tốn nhiều công sức trong việc tiến hành việc chuyên đổi tri thức ngôn ngữ cho từng cặp ngôn ngữ. Kiến trúc dịch qua ngôn ngữ trung gian (Interlingual Architecture): Phân tích ngôn ngữ nguồn va đưa ra mô tả về tri thức ngôn ngữ tương ứng trên một ngôn ngữ trung gian, độc lập với ngôn ngữ nguồn. Từ đó tạo ra văn bản cho ngôn ngữ đích. Nói cách khác, các cặp ngôn ngữ nguồn và đích đều được dịch thông qua một ngôn ngữ trung gian.
Đây là kiến trúc hoàn hảo mà các hệ dịch máy vươn tới. Ba lớp kiến trúc cho hệ dịch máy trên cùng đưa ra câu trả lời cho câu hỏi là những thể hiện nảo được sử dụng và những bước nào được thực thi cho một quá trình dịch. Tuy nhiên, còn có một cách tiếp cận khác cho bài tóan dịch máy — cách tiếp cận dựa trên dit liệu (corpus-based), trong đó tập trung vào kết quả chứ không tập trung vào tiễn trình thực hiện. Các phương pháp theo cách tiếp cận này là dịch dựa trên ví dụ (Example-based) và phương pháp dịch máy thống kê (Statistical).
Đối sánh (Matching) “He buys a book on international politics" Be nhẹ dich) (Translation „. ' “| read a book on international politics" <=> — "Watashi ha kokusaiseiji nitsuite kakareta hon wo yornu" "He buys a notebook" <=> Gióng hang "Kare ha nouto wo kau" (Alignment) Gióng hàng | (Alignment "| read a book on international politics <=> Watashi ha kokusaiseiji nitsuite kakareta hon wo yomu" "He buys a notebook" <=> “Kare ha nouto wo kau" Kết hợp lại (Recombination) Kết hợp lại (Recombination Xử "He buys a book on intemational politics" <=> Hình 1.2: Một vi du dich máy ghi nhớ II Ý tưởng của phương pháp dịch máy ghi nhớ là tìm trong kho ngữ liệu song ngữ các câu nguồn có đoạn giống câu cần dịch, phân tích để chỉ ra phần tương ứng của câu đích trong cặp câu ngữ liệu, sau đó tổng hợp và đưa ra kết quả [31].2 đưa ra một ví dụ dịch câu tiếng Anh “He buys a book on International politics” sang tiếng Nhật sử dụng phương pháp dịch máy ghi nhớ. Tuy nhiên, phương pháp này sẽ đem lại kết quả dịch không tốt khi dịch với các cặp ngôn ngữ khác biệt nhiều về cấu trúc ngữ pháp và đòi hỏi một lượng ngữ liệu song ngữ rất lớn. Dich máy thống kê thay vì xây dựng các từ điển, các quy luật chuyên đổi bằng tay, hay ghi nhớ các đoạn giống nhau từ kho ngữ liệu, hệ dịch này tự động xây dựng các từ điển, các quy luật dựa trên kết quả thống kê có được từ các kho ngữ liệu.
Chính vì vậy, dịch máy dựa vào thống kê có tính khả chuyên cao áp dụng được cho bất kỳ cặp ngôn ngữ nào. Đây là hướng tiếp cận đang được đánh giá cao và thu được nhiều kết quả ấn tượng nhất. Trong các phần tiếp theo của luận văn tôi sẽ đi sâu vào hướng tiếp cận này.3 Những khó khăn trong dịch máy Mỗi ngôn ngữ đều có đặc trưng riêng khiến cho việc dịch tự động từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác phải đối mặt với những thách thức ghê gớm. Dưới đây là những khó khăn tiêu biểu cho việc dịch các ngôn ngữ tự nhiên nói chung và dịch Anh-Việt nói riêng.
Nhập nhằng Sự nhập nhằng trong các ngôn ngữ tự nhiên là rất lớn. Đây chính là khó khăn lớn nhất của quá trình dịch tự động khi phải lựa chọn từ với nghĩa phù hợp nhất trong rất nhiều nghĩa khác nhau của một từ đầu vào. Có các loại nhập nhằng sau: - Nhập nhang từ vựng Một từ có thé có nhiều chức năng ngữ pháp. Mỗi chức năng ngữ pháp lại có thể có nhiều nghĩa.
Các loại từ này là gặp thường xuyên trong ngôn ngữ tự nhiên. Vi dụ: Trong tiếng Anh bình quân một từ có ít nhất 2 nghĩa: từ make có 14 nghĩa, từ nervous có 4 nghĩa,. Từ train có chức năng noun (danh từ) va có nghĩa là tau hoa, hoặc doan tuy tung. Từ train có chức năng là Verb (động từ) và có nghĩa là đào tao, hoặc day để.
12 Thông thường loại nhập nhằng này có thể khắc phục bằng cách dựa vào phân tích ngữ pháp và dựa vào ngữ cảnh câu. Vị dụ: I love you (tôi yêu bạn). Ở câu nay love tuy có hai nghĩa: tinh yêu (noun), yéu (verb). Nhưng theo cấu trúc của câu tiếng Anh bắt buộc trong câu phải có động từ đi kèm cho nên /ove ở đây được hiểu nghĩa là yêu (verb).
- Nhập nhang về cú pháp (syntactic ambiguity) Trong ngôn ngữ tự nhiên một câu có thể có các cau trúc ngữ pháp khác nhau, từ đó dẫn đến một câu có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Đôi khi một cấu trúc ngữ pháp cũng có thé hiểu theo các nghĩa khác nhau. Vị dụ: Câu 1: saw a horse with a telescope. - Isaw a horse with a telescope.
- Isaw ahorse with a telescope. Câu 2: I saw a man with a telescope. - Isaw aman with a telescope. - Isaw aman with a telescope.
Câu 1 có thé hiểu theo hai nghĩa: - Tôi nhìn thay con ngựa qua ống nhòm. - Tôi nhìn thấy một con ngựa (mà nó) có cái ống nhòm. Câu 2 cũng có thể hiểu được theo hai nghĩa: - Tôi nhìn thấy một người đàn ông qua ống nhòm. - Tôi nhìn thay một người đàn ông (mà ông ta) có cái ống nhòm.
Việc phân tích nghĩa cho phép ta chọn nghĩa đúng (trong ngữ cảnh thông thường) của câu 1, nhưng không thể xác định được trong câu 2. - Nhập nhằng nói năng Bao gồm cả sự mơ hồ về từ ngữ lẫn cú pháp. John took the fruit from the table, then he cleaned it. (John lấy trái cây ra khỏi bàn, rồi anh ta lau nó) it (nó) ở đây là fruit (trái cây) hay table (cai bàn) ? - Mơ hồ về phân đoạn Chỉ tồn tại trong các thứ tiếng các nước châu Á-ngôn ngữ loại đơn lập.
Và là một vấn đề mà dịch theo chiều Việt-Anh gặp phải. Vi dụ: Ong già di nhanh quá. 13 Ở ví du này ta có thé hiểu Ong là chủ ngữ (là người ma đang nói đến), hoặc ta cũng có thể hiểu đang nói đến một dng già nào đó làm chủ ngữ, dẫn đến câu này không thê biết chính xác nghĩa như thế nào cả. Không đủ thông tin Trong ngôn ngữ thông thường đặc biệt trong hội thoại, ta thường gặp các đoạn văn, câu văn không đây đủ, thiếu đi các thành phần của câu.
Thường thì người nghe có thé tự sửa lai câu và hiểu được câu, nhưng đó là một van đề khó cho máy dịch. Vi dụ: Mary tidied up the kitchen and John the living room. (Mary don dep bép va John - phong khach.) Nhu vậy ở đây đã lược bỏ di cum “tidied up”. Trong nhiều trường hợp, để hiểu đúng nghĩa của câu phải căn cứ vào các câu đứng trước hoặc đứng sau nó.
Vi dụ: The room has two cabinets. He keeps books in them. (Cái phòng đó có hai cái tủ. Anh ta cat các quyền sách trong chúng.) Trong câu thứ 2, muốn xác định được từ “them” biểu đạt ý nghĩa như thế nào ta buộc phải biết nghĩa của câu trước.
Cấu trúc ngữ pháp phức tap Hệ thống ngữ pháp của một ngôn ngữ bất kỳ thường rất phức tạp và đa dạng. Trước hết từ những luật đơn giản có thé bé sung và phát triển thành những luật phức tạp. Tiếp theo dé mô tả day đủ được các luật trong ngôn ngữ tự nhiên chúng ta không thé mô tả chúng dưới dạng văn phạm phi ngữ cảnh. Do đó hiện nay chưa có một thuật toán phân tích cấu trúc ngữ pháp toàn vẹn cho ngôn ngữ tự nhiên.
Vi dụ: Một luật ngữ pháp cho tiếng Anh có thé biểu diễn dưới dạng: S::=S conjt S Luật này mang tinh chat đệ quy do đó ta có thé xây dựng được các câu rat dài. Kasprop win Deep Blue and my friend loss Deep Thought. Hay các thành phan lồng nhau như: John’s aunt’s friend’s ticket (cái vé của bạn của cô của John). Như vậy, cấu trúc ngữ pháp của ngôn ngữ tự nhiên rất phức tạp và việc tiến hành dịch sẽ gặp rất nhiều trở ngại.
Lượng từ vựng nhiều Tiếng Anh có khoảng 500.000 từ thông thường và 300.000 thuật ngữ khoa học. Việc đưa các đữ liệu này vào máy tính như thế nào và xử lý chúng là một bài 14 toán khó. Và đặc biệt là đối với những ngôn ngữ có sự biến đổi hình thái. Trong từ điển của hệ dich máy khó có thé bao trùm hết được tat cả những từ đó.
Hon nữa, máy không thé hiểu được từ nào là biến cách của từ nào dé có thé dịch theo nghĩa của từ đó.