Chương 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỤC NGỮ VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TỤC NGỮ Ở VIỆT NAM.1Khái quát về tục ngữ: 1.1 Khái niệm tục ngữ: Từ trước đến nay, ở Việt Nam có rất nhiều định nghĩa về tục ngữ. Vũ Ngọc Phan trong công trình “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam”, năm 1965 đã định nghĩa như sau: “Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một lý luận, một công lý, có khi là một sự phê phán”[182, 39]. Trong bài viết “ Đạo lý trong tục ngữ” đăng trên tạp chí Văn học, số 5 năm 1985, Nguyễn Đức Dân đã quan niệm:“Tục ngữ là những câu nói ổn định về cấu trúc, phản ánh những tri thức, kinh nghiệm và quan niệm (dân gian) của một dân tộc về thế giới khách quan, tự nhiên cũng như xã hội” [ 18, 58]. Hoàng Tiến Tựu trong công trình “Văn học dân gian Việt Nam”, tập 2 năm 1990 đã cho rằng: “Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức, nêu lên những nhận xét, phán đoán, lời khuyên răn của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, giản dị, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền” [257,109].
Theo Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn trong “Văn học dân gianViệt Nam” do Nxb Giáo dục phát hành năm 1998 thì: “Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có ý nghĩa hàm súc, do nhân dân lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỷ” [112, 244]. Có thể nói: tục ngữ là một đơn vị ngôn ngữ, có chức năng thông báo, có khả năng tạo câu một cách độc lập dưới dạng lời nói, hình thức cấu trúc của chúng tương đối ổn định, có ý nghĩa khái quát cao, do nhân dân lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỷ. Tục ngữ là tấm gương phản chiếu mọi biểu hiện của đời sống dân tộc, mọi quan niệm của nhân dân về các hiện tượng lịch sử xã hội, về đạo đức, tôn giáo. Nó là một thể loại văn học ra đời rất sớm, có số lượng phong phú và sức sống lâu bền trong folklore của các dân tộc trên thế giới.
Tục ngữ là một di sản hết sức quý báu cần được lưu truyền và gìn giữ. Là sự đúc kết trí tuệ và tâm hồn của nhân dân lao động, vì vậy mỗi câu tục ngữ không chỉ là một phán đoán, một triết lý mà còn là văn bản nghệ thuật có giá trị. Tục ngữ được ví như “túi khôn nhân gian”, “kho báu của trí tuệ nhân dân”. Tục ngữ được nhân dân sáng tạo ra để vận dụng.
Trong đời sống và tư duy, tục ngữ thể hiện và hướng dẫn kinh nghiệm về cách nhìn nhận, bình giá, ứng xử, thực hành các hiện tượng. Trong ngôn ngữ, tục ngữ làm đẹp, làm sâu sắc thêm lời nói, giúp mọi người diễn đạt cả những điều khó diễn đạt hoặc không tiện nói ra trực tiếp. Vì vậy, khi giao tiếp qua ngôn ngữ nói hàng ngày cũng như trong văn viết, từ xa xưa cha ông cha ta thường hay mượn thành ngữ, tục ngữ để diễn đạt các khái niệm, các ý tưởng, khiến cho cách nói, cách viết vừa có hình ảnh, gợi cảm, đồng thời có sức thuyết phục mạnh mẽ.2 Đặc điểm tục ngữ: 1.1 Đặc điểm về nội dung: Tục ngữ có thể gọi là “túi khôn” của dân tộc vì trong bản thân nó chứa đựng vô vàn tri thức của đời sống. Đó là những tri thức về giới tự nhiên, mối quan hệ của con người với giới tự nhiên và con người trong mối quan hệ với đời sống, xã hội.
Những câu tục ngữ phản ánh tri thức về tự nhiên và mối quan hệ của con người với giới tự nhiên phần lớn là những câu nói về thời tiết và kinh nghiệm lao động, nảy sinh trong quá trình lao động và đấu tranh với thiên nhiên của nhân dân ta. Nội dung của các câu này thể hiện sự nhận xét tinh tế của nhân dân ta trước các hiện tượng tự nhiên hoặc dự đoán thời tiết: “Ráng mỡ gà ai có nhà phải chống”, “Ráng vàng thì nắng, ráng trắng thì mưa”, “Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa”, “Cầu vồng mống cụt, không lụt thì bão”, “Gió bấc hiu hiu, sếu kêu thì rét”, “Mùa hè đang nắng cỏ gà trắng thì mưa”.Còn những câu tục ngữ về lao động sản xuất phản ánh tập quán làm ăn lâu đời của nhân dân trong hoàn cảnh một nước nông nghiệp với kỹ thuật sản xuất thô sơ như kinh nghiệm về trồng trọt: “Cày thưa hơn bừa kỹ”, “Hòn đất nỏ là một giỏ phân”, “Năm trước được cau, năm sau được lúa”, làm ruộng: “Làm ruộng không trâu, làm giàu không thóc”, “Nhai kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa”, “Chiêm cập cợi, mùa đợi nhau”, “Nhất cày ải, nhì vãi phân”, “Khoai ruộng lạ, mạ ruộng quen”.trong đó chủ yếu là kinh nghiệm trồng lúa. Tục ngữ về kinh nghiệm chài lưới và chăn nuôi chiếm phần nhỏ hơn so với tục ngữ về kinh nghiệm làm ruộng, do hai nghề này không được phát triển như nghề trồng lúa. Những câu phản ánh kinh nghiệm chài lưới: “Tôm đi chạng vạng, cá đi rạng đông”, kinh nghiệm chăn nuôi, chọn giống gia súc: “Chấm trán, lọ đuôi, không nuôi cũng nậy”(chọn lợn).
Bên cạnh đó, còn có những câu nói về các nghề thủ công như nghề gốm: “Nhất dáng, nhì men, ba chàm, bốn vẽ”, nghề dệt: “Con gái thấy hoa vải to như bò thấy nhà táng”.Nhìn chung, tục ngữ về lao động sản xuất phản ánh trên một số nét chính điều kiện phương thức lao động của dân tộc ta, phản ánh một số đặc điểm của đời sống dân tộc. Nhưng do chức năng đặc biệt của nó, tục ngữ về lao động sản xuất không mang những nội dung cuộc sống phong phú như tục ngữ về con người-đời sống-xã hội. Đại bộ phận tục ngữ Việt Nam là những câu phản ánh con người-đời sống-xã hội. Có thể nói đời sống xã hội của con người được thể hiện qua tục ngữ vô cùng phong phú.
Qua tục ngữ, những ký ức về thời kỳ lịch sử xa xưa của dân tộc ta đã được ghi lại: “Ăn lông ở lỗ”, “Con dại cái mang”, “Năm cha ba mẹ”, “Chồng chung vợ chạ”.Những hiện tượng và nhân vật lịch sử cá biệt, những biến đổi về kinh tế, chính trị ảnh hường đến đời sống nhân dân cũng được phản ánh trong một số câu tục ngữ: “Đít Lý Râu, đầu Án Cộng”, “Lệnh ông, cồng bà”, “Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi”, “Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong”, “Một nhà hai chủ không hòa-Hai vua một nước ắt là không yên”. Rất nhiều câu phản ánh tập tục sinh hoạt hàng ngày như ăn, ở, mặc, giao tế, cưới xin, ma chay, hội hè, sinh hoạt tôn giáo., như: “Cơm có bữa, chợ có chiều”, “Ếch tháng ba , gà tháng bảy”, “Tương cà gia bản”, “Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét”, “Bánh giầy nếp cái, con gái họ Ngô”, “Lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng nam”, “Áo rách thay vai, quần rách đổi ống”, “Hết tang trải chiếu ngang mà ngồi”.Có những câu ghi lại những đặc điểm trong tổ chức và tập tục của xã hội-đơn vị cơ sở của quốc gia phong kiến Việt Nam: “Phép vua thua lệ làng”, “Đất có lề, quê có thói”, “Sống lâu lên lão làng”, “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”. Nhiều câu tục ngữ phản ánh tổ chức gia đình và những quan điểm thân tộc của nhân dân ta trong xã hội phong kiến: “Thế gian một vợ một chồng”, “Chết trẻ còn hơn lấy lẽ”, “Cha truyền con nối”, “Chim có tổ người có tông”. Tục ngữ còn phản ánh đời sống của các giai cấp và các tầng lớp nhân dân khác nhau, chủ yếu là nông dân lao động: “Canh một chưa nằm, canh năm đã dậy”, “Con đóng khố, bố cởi truồng”, “Muốn nói oan làm quan mà nói”,“Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ”, “ Tuần hà là cha kẻ cướp”.và tình hình đấu tranh giai cấp, đấu tranh chống áp bức bóc lột của nhân dân trong xã hội phong kiến: “Được làm vua thua làm giặc”, “Thượng đẳng sợ kẻ bất đẳng”, “Quan bất phiền, dân bất nhiễu”, “Quan cần nhưng dân không vội, quan có vội quan lội quan sang”.Bên cạnh đó, tục ngữ còn phản ánh khá đầy đủ những đức tính của nhân dân lao động như tính cẩn thận: “Một người biết lo bằng kho người hay làm”, tính cần cù “Siêng làm thì có, siêng học thì hay”, tính kiên trì, nhẫn nại “Còn nước, còn tát”, tinh thần lạc quan "Sông có khúc, người có lúc”, “Có công mài sắt, có ngày nên kim”, ý thức cao về cái đẹp của tâm hồn “ Tốt danh hơn lành áo”, “Đói cho sạch rách cho thơm”, “Cái nết đánh chết cái đẹp”.Tình cảm gia đình cũng được phản ánh đa dạng, phong phú qua những câu tục ngữ: đó là tình cảm vợ chồng: “Vợ chồng sống gửi thịt, chết gửi xương”, “Gái thương chồng đương đông buổi chợ, trai thương vợ nắng quái chiều hôm”, “Vợ chồng đầu gối tay ấp”., tình cảm cha mẹ đối với con cái cũng như con cái đối với cha mẹ: “Con lên ba, mẹ sa xương sườn”, “trẻ cậy cha, già cậy con”, “nhiều con, giòn mẹ”, “Một bát cơm cha bằng ba bát cơm rể”., tình cảm anh em: “ Em khôn cũng là em chị, chị dại cũng là chị em”, “Con chị cõng con em, con em lèn con chị”, “Anh em hạt máu sẻ đôi”.Một số câu phản ánh sâu sắc truyền thống, tư tưởng và đạo đức tốt đẹp của nhân dân lao động.
Đó là tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa chân chính. Tư tưởng này này thể hiện ở sự quý trọng con người: “Người ta là hoa đất”, “Người sống, đống vàng”, “Người như hoa ở đâu thơm đó”.; đó là truyền thống yêu lao động, đánh giá cao lao động, xét đoán con người qua thái độ lao động: “Ăn không thì hóc, chẳng xay thóc phải ẳm em”,“Của một đồng, công một nén”, “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”.; lòng tự hào của nhân dân đối với đất nước giàu đẹp và con người tài hoa: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài – Chẳng lịch cũng thể là người Tràng An”, “Ăn Bắc mặc Kinh”, “Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến”. Tóm lại, nội dung của tục ngữ bao hàm tất cả tinh hoa của tính cách, truyền thống dân tộc, nó là một kho tàng phong phú và quý báu gồm những kinh nghiệm đời sống, lịch sử - xã hội đã tích lũy lại được từ hàng nghìn năm lao động và đấu tranh của nhân dân ta.