CHƯƠNG 1 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ, BẢO TRÌ VÀ SỬA CHỮA CÁC TUYẾN ĐƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH 1. Điều kiện tự nhiên và phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định 1. Vị trí địa lý Bình Định là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam có diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 6.050 km2, dân số 1.350 người, mật độ dân số 249.64 người/km2 (theo số liệu thống kê năm 2013 - Cục Thống kê Bình Định). Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, Nam giáp tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông giáp biển Đông [11].
Bình Định có vị trí địa lý thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế xã hội. Thực tế những năm qua, lợi thế này đã được tỉnh khai thác tương đối tốt và sẽ còn được phát huy trong tương lai. Với vị trí trung tâm trên các tuyến giao lưu quốc tế và liên vùng, tuyến trục Bắc Nam và Đông Tây của miền Trung, gần đường hàng hải quốc tế, là cửa ngõ hướng biển của các nước trong Tiểu khu vực Mê Công mở rộng, đặc biệt là với các nước Lào, Campuchia và các tỉnh Đông Bắc Thái Lan. Bình Định có Quốc lộ 19 nối hành lang Đông - Tây, đáp ứng tốt lưu thông hàng hoá từ cảng Quy Nhơn lên Tây Nguyên và các nơi thuộc tiểu vùng sông Mê Kông.
Nằm ở phía Nam của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, Bình Định nối liền với các tỉnh phía Bắc, phía Nam qua Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc - Nam. Sân bay Phù Cát có các chuyến bay đến Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh. Đặc biệt, tỉnh có bờ biển dài 134 km, vùng lãnh hải 2.500 km2 với vùng đặc quyền kinh tế 40.000 km2, có cảng Quy Nhơn và tương lai gần có cảng Nhơn Hội với hậu phương cảng rộng lớn và hấp dẫn mạnh đối với các tỉnh Tây Nguyên, Nam Lào và Đông Bắc Campuchia, Thái Lan - là những HVTH: Võ Hoàng Việt GVHD: TS.
Nguyễn Mạnh Hùng Trang: 6 khu vực có nhiều tiềm năng to lớn về hàng hóa lâm sản, cây công nghiệp, khoáng sản, du lịch. Vị trí địa lý trên tạo điều kiện thuận lợi để Bình Định khai thác các thế mạnh về tiềm năng lao động, đất đai, các nguồn tài nguyên cho việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư, giao lưu thông thương với các tỉnh trong nước và quốc tế, hòa nhịp với xu thế phát triển chung của cả nước; điều kiện để Bình Định phát triển trở thành một trong những tỉnh phát triển ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ. Phát triển kinh tế xã hội 1. Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trong những năm qua, kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định không ngừng phát triển.
Các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội được nâng cao, các công trình hạ tầng kỹ thuật và phúc lợi xã hội được đầu tư phát triển. Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) năm 2013 theo giá so sánh 1994 ước đạt 12.110 tỉ đồng, tăng 8,56% so với cùng kỳ. Trong đó, nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,9%, đóng góp 0,85 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung của tỉnh; nhóm ngành công nghiệp và xây dựng tăng 9,46%, đóng góp 3,08 điểm phần trăm; nhóm các ngành còn lại tăng 12,15%, đóng góp 4,63 điểm phần trăm [13]. Nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ước đạt 3.362 tỉ đồng, tăng 2,9% so với cùng kỳ.
Nhóm ngành này tăng chậm do giá trị tăng thêm (VA) của ngành nông nghiệp chỉ tăng 0,7% chủ yếu vì diện tích gieo trồng lúa năm 2013 giảm 8.696 ha so với năm trước. Trong đó, diện tích lúa Đông Xuân giảm 1.926 ha, diện tích lúa Hè Thu giảm 4.751 ha và diện tích lúa Vụ Mùa giảm 2.019 ha đã làm cho sản lượng lúa cả 3 vụ giảm hơn 45 ngàn tấn. Bên cạnh đó, hoạt động nuôi trồng thủy sản cũng gặp không ít khó khăn. HVTH: Võ Hoàng Việt GVHD: TS.
Nguyễn Mạnh Hùng Trang: 7 Nhóm ngành công nghiệp và xây dựng ước đạt 3.983 tỉ đồng, tăng 9,46% so với cùng kỳ, riêng giá trị tăng thêm (VA) ngành công nghiệp tăng 8,17%. Nhìn chung sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong năm đã duy trì được mức tăng trưởng tích cực. Trong đó, giá trị tăng thêm (VA) ngành công nghiệp khai khoáng tăng 6,89%, ngành công nghiệp chế biến tăng 9,21%, riêng ngành sản xuất và phân phối điện chỉ tăng 2,96% vì thiếu hụt nguồn nước. Nhóm các ngành còn lại ước đạt 4.765 tỉ đồng, tăng 12,15% so với cùng kỳ.
Trong đó, ngành thương nghiệp tăng 10,23%, ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 10,18%, ngành vận tải kho bãi tăng 10,48%, ngành hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm tăng 2,54%. Tổng sản phẩm trong tỉnh theo giá hiện hành ước đạt 51. Trong đó nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 15.339 tỉ đồng, chiếm 29,6%; nhóm ngành công nghiệp và xây dựng ước đạt 16.150 tỉ đồng, chiếm 31,1%; nhóm các ngành còn lại ước đạt 20.412 tỉ đồng, chiếm 39,3%. Trong năm 2013, tình hình sản xuất và kinh doanh dịch vụ trên địa bàn tỉnh Bình Định đã từng bước ổn định và duy trì mức tăng trưởng nhất định.
Tuy nhiên, khó khăn trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp vì điều kiện khách quan do nắng nóng, thiếu nước tưới đã làm diện tích gieo trồng giảm mạnh, nuôi trồng thủy sản gặp một số khó khăn. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng trưởng chậm đã dẫn đến tỉ trọng của khu vực này giảm từ 33,6% của năm 2012 xuống còn 29,6% năm 2013; ngược lại, tỉ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 26,9% lên 31,1%. Tình hình xã hội a. Dân số Tốc độ đô thị hóa ngày càng cao đã đưa tỉ trọng dân số khu vực thành thị ngày lớn hơn.
Năm 2013 tỉ trọng dân số khu vực thành thị của tỉnh Bình Định chiếm 30,8%, quy mô dân số thành thị có 464.750 người, tăng 0,4% so HVTH: Võ Hoàng Việt GVHD: TS. Nguyễn Mạnh Hùng Trang: 8 với năm trước. Dân số khu vực nông thôn chiếm 69,2%, quy mô dân số khu vực nông thôn có 1.902 người, tăng 0,3% so với năm 2012. Tổng tỉ suất sinh (số con sinh ra bình quân của một phụ nữ) năm 2013 đạt mức 2,20 con/phụ nữ, giảm 0,06 con/phụ nữ so với năm 2012.
Lao động, việc làm Đồng hành với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động của tỉnh đã có xu hướng giảm tỉ trọng lao động thuộc khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản và tăng tỉ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân năm 2013 là 888.977 người, tăng 2,1% so với năm trước. Trong đó, lao động làm việc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 482.052 người, giảm 0,2%; khu vực công nghiệp và xây dựng 181.725 người, tăng 3,6%; khu vực dịch vụ 225.200 người, tăng 6,4%. Tỉ lệ thất nghiệp năm 2013 là 2,9%, giảm 0,2% so với năm trước.
Trong đó, thất nghiệp ở khu vực thành thị là 3,8%, giảm 0,3%; thất nghiệp ở khu vực nông thôn là 2,6%, giảm 0,2% so với năm trước. Trước sự khởi sắc của tình hình kinh tế xã hội của địa phương, trong năm 2013 thu nhập và đời sống các tầng lớp nhân dân trong tỉnh từng bước được cải thiện. Bắt đầu từ ngày 01/7/2013 đối tượng hưởng lương từ khu vực Nhà nước được nâng mức lương tối thiểu từ 1.000 đồng cũng góp phần nhất định vào việc cải thiện mức sống của các đối tượng hưởng lương và chính sách xã hội. Thu nhập bình quân một tháng của một nhân khẩu trên địa bàn tỉnh là 1.878 nghìn đồng, tăng 9,1% so với năm trước.
Trong đó, khu vực thành thị có thu nhập 2.797 nghìn đồng/nhân khẩu/tháng, tăng 14,5%; khu vực nông thôn có thu nhập 1.528 nghìn đồng/nhân khẩu/tháng, tăng 6,5%. HVTH: Võ Hoàng Việt GVHD: TS. Nguyễn Mạnh Hùng Trang: 9 c. Giáo dục và đào tạo Tiếp tục thực hiện chủ trương cải cách và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, trong những năm qua hoạt động giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh đã được một số kết quả nhất định.
Cơ sở vật chất của ngành giáo dục từng bước được đầu tư theo hướng hiện đại, chất lượng đội ngũ giáo viên ngày càng được nâng lên, tỉ lệ học sinh tốt nghiệp các cấp học và tỉ lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng ngày càng tăng hơn. Năm 2013, toàn tỉnh có 444 trường học phổ thông, tăng 3 trường so với năm trước. Trong đó, trường tiểu học tăng 1 trường, trường THCS tăng 2 trường. Số lớp học phổ thông có 8.781 lớp, tăng 0,7% so với cùng kỳ.
Trong đó, số lớp ở bậc Tiểu học tăng 3,9%; ngược lại, số lớp học ở bậc THCS giảm 1,0% và số lớp ở bậc THPT giảm 5,9%. Số học sinh phổ thông năm 2013 có 280.286 học sinh, giảm 2,4% so với năm trước. Trong đó, học sinh bậc THCS có 95.027 học sinh, giảm 2,1%, bậc học THPT có 61.117 học sinh, giảm 9,5%; ngược lại, học sinh tiểu học có 124.142 học sinh, tăng 1,1% so với cùng kỳ. Số giáo viên tiểu học có 6.261 giáo viên, tăng 0,4% so với năm trước.
Bình quân 19,8 học sinh/giáo viên, năm 2012 là 19,7 học sinh/giáo viên. Trong lĩnh vực đào tạo, số học sinh ở các trường Trung học chuyên nghiệp ngày càng giảm, trong khi đó số lượng sinh viên ở bậc Cao đẳng, Đại học tăng lên cho thấy tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ” chẳng những chưa được khắc phục mà còn có xu hướng ngày càng bộc lộ rõ ở thanh niên khi chọn ngành, nghề và bậc đào tạo. Năm 2013 số học sinh Trung học chuyên nghiệp trên địa bàn có 2.679 người, giảm 0,2% so với năm học trước. Trong khi đó, số sinh viên Đại học, Cao đẳng có 38.643 người, tăng 1,5%.
HVTH: Võ Hoàng Việt GVHD: TS. Nguyễn Mạnh Hùng Trang: 10 Bên cạnh sự gia tăng số lượng sinh viên, đội ngũ giảng viên ở các trường Đại học, Cao đẳng và THCN ngày càng được củng cố cả về số lượng và chất lượng. Số giảng viên các trường Đại học, Cao đẳng năm 2013 có 1.139 người, tăng 3,5%; giảng viên các trường THCN có 90 người, tăng 12,5% so với cùng kỳ. Y tế Số cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh năm 2013 có 187 cơ sở.
Trong đó, bệnh viện 12, phòng khám đa khoa khu vực 6, trạm y tế xã, phường, thị trấn 159 trạm. Số cán bộ ngành y năm 2013 có 4.148 người, tăng 16 người (+0,5%) so với năm trước. Trong đó, có 861 bác sĩ, tăng 4 bác sĩ (+0,5%); y sĩ 643 người, tăng 1,3%; y tá 1.